| Đây: Luật của phường |
Phần 1: Nửa thế kỷ sống trong "rừng" luật.
Luật mẹ , luật con và …
1- Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành có 24 thông tư, chỉ thị, quyết nghị “ăn theo”
2- Về quản lý đất đai, hiện có trên 400 văn bản có liên quan tham gia điều chỉnh các hoạt động sang nhượng, sử dụng, giải tỏa, đền bù, khiếu kiện.
3- Một ông chồng đánh vợ gây thương tích, Luật Hôn nhân và Gia đình chỉ xử khi người bị hại (là vợ) tố cáo. Trong khi đó Luật Hình sự sẵn sàng truy tố anh ta vì phạm tội đánh người gây thương tích.
4- Một bản án được xét xử bởi TAND từ sơ thẩm đến Giám đốc thẩm. Ngay từ cấp đầu tiên đã được tiến hành với đủ bộ lệ là những thủ tục tố tụng nghiêm ngặt. Công tác điều tra của cơ quan chức năng. Sự giám sát của Viện kiểm sát. Trình độ nhân viên Tòa nguyên từ đại học trở lên đã qua những sàng lọc ghê gớm của các cuộc tuyển chọn công chức theo đặc thù của ngành nhưng, kết quả xét xử ở từng cấp khác nhau, nhiều khi đối nghịch nhau.
Thỉnh thoảng chính một cấp xét xử lúc thế này, khi thế khác.
Khi lý giải những vấn đề này, nhiều chuyên gia giải thích tùy hứng như “vì còn chồng chéo” hay “chưa nhất thể” “bởi lịch sử”, cuối cùng lỗi thường được “tặng” cho bộ máy thi hành.
Đặc biệt, có một loại luận lý rất sai lầm được dùng nay đã gần thành thói quen “cơ chế thượng tầng đúng nhưng bên dưới thực thi sai”.
Trong loạt bài viết này, tác giả sẽ minh chứng được những hiện tượng “thực thi đúng” nhưng kết quả sai, ở đây, “kết quả” được xem như hiệu ứng xã hội cuối cùng của vụ việc.
Cần phải thấy rằng: Tất thảy những vấn đề đó có nhiều nguyên nhân xã hội nhưng một trong những nguyên nhân chính là từ ngày lập quốc, nền pháp chế chúng ta cứ “tuần tự như tiền”, cứ làm, sai thì sửa. Chỗ này làm rồi, chỗ kia làm lại cũng không sao, luật chồng luật, những văn bản dưới luật mọc ra như nấm, chồng lên nhau. Ai cũng ra được luật, thậm chí cấp phường cũng ra được “luật riêng”. Cái lớn nhất, là chúng thiếu một Bộ Pháp điển hóa. Đó là một công cụ không thể thiếu để hạn chế việc ra đời những định chế không phù hợp. Chống sự chồng chéo và để áp dụng cho việc kiểm soát sự ra đời của các văn bản pháp luật.
Xin đi vào một vài ví dụ như sau.
Câu chuyện từ một Vụ Pháp chế
Năm 2002, khi viết về đề tài xe công nông, tôi dụng công tìm đến văn bản pháp luật gốc đã khai tử loại xe này.
Cần nói thêm là, theo quan điểm của tôi, xe công nông có nhiều điểm tích cực. Những bất cập thì có thể khắc phục. Nó là loại phương tiện hữu dụng cho nhà nông “đời mới” như con trâu, cái cày xưa.
Qua trao đổi được nhiều chuyên gia tán đồng. Ông Trịnh Đức Chinh, Cục trưởng cục Đăng kiểm Bộ GTVT còn khẳng định: Không có xe công nông, chưa có hình ảnh phát triển ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ hôm nay.
Xe công nông được tạo bằng căn bản tiết kiệm tối đa. Người ta tạo nên xe công nông trên cơ sở khung sườn xe tải cũ, chỉ lấy lại khung, hộp số, hệ thống phanh, đèn, hệ thống lái rồi mua máy diesl mới gắn vào , đóng thùng rồi chạy.
Vào thời điểm 1995-2002 chiếc xe công nông có sức tải 5 tấn chỉ có giá 35 triệu, rẻ hơn khoảng 7- 10 lần một chiếc xe tải 5 tấn, đã dùng vài năm rồi nhập từ Nhật, Hàn Quốc về ( Chiếc Huyndai 5 tấn thời đó giá chừng 400 triệu, nhiều khi bằng giá trị 8 ngôi nhà của bà con nông thôn) vốn chỉ là ước mơ của dân ta thời điểm đó.
Trong 5-7 năm tồn tại, từ bắc chí nam 120 ngàn chiếc, đến 2006 ( ngay ngoại thành Sài Gòn và vùng Biên Hòa có hơn 7000 chiếc). Trên toàn quốc, nó đã vận chuyển hàng chục triệu tấn hàng hóa. Lợi ích nó đem lại cho cộng đồng gồm hai nét: Giá thành rẻ hơn chở bằng ô tô ba lần, do đó, thực chất nó “làm lợi” cho đối tượng sử dụng hàng ngàn tỷ đồng.
Chuyến hàng trong ảnh này, chỉ chạy 8 km từ rẫy về nhà, trong đó có 5 km là đường rừng, tháng 7 năm 2009 nếu chở bằng ô tô chính quy hết 350 ngàn cước, chở bằng công nông hết 150 ngàn nhưng hiện nó đang phải chạy …chui!.
Thứ hai, nó chui luồn vào được hang cùng ngõ hẻm, đường xá khó khăn, gai gốc, gồ ghề. Thậm chí không có đường nó vẫn lần mò vào rẫy được.
Người đóng xe, người dùng xe vốn rất gần với “giai cấp nông dân”, ưa đơn giản, được việc và cầm vào vùng nhu cầu là nông thôn, nông nghiệp nên đã tùy tiện, đơn giản hóa, không đi đến cùng trong việc tạo ra một sản phẩm thật an toàn.
Nơi này nơi kia xuất hiện vài vụ tai nạn giao thông có nguyên nhân từ công nông.
Trên TV truyền đi câu hát ê a của mấy “ranh hài” : ra đường sợ nhất công nông, về nhà sợ nhất vợ không nói gì…
Thế là, với tư duy “đùng một cái”, loại xe này bị khai tử.
Thực ra, nếu nhà lập pháp là một cơ chế nắm vững tính khoa học pháp lý, dày công nghiên cứu, tìm rõ căn nguyên rồi đưa ra định chế buộc giới chủ xe phải đầu tư cho phần an toàn thật tốt, “khoanh vùng” cho nó hoạt động trong vùng thích hợp, là xong.
Hoặc giả, nếu muốn cấm, trình dự thảo văn bản ra Quốc hội, các đại biểu chuyên trách nghiên cứu kỹ, phản bác thỏa đáng rồi cuối cùng, đưa ra những quyết sách tốt, dân chủ, bảo đảm mọi lợi ích, không vi phạm hiến pháp, pháp luật .
Nhưng, vụ việc này không như vậy.
Hai sự thật trong hành trình của nhà báo
Tôi đến sở GTVT Đồng nai trên hành trình tìm văn bản gốc của vụ này. Tại đó người ta chỉ tôi “anh sang bên UBATGT tỉnh, ở đó dễ tìm hơn”.
Nhưng thực chất, ở đó không dễ. Tôi tìm về Sở GTVT TP HCM, người phụ trách rất nhiệt tình nhưng nói thẳng “nếu không biết rõ tên văn bản thì chịu”.
Quỷ thật, nếu biết rõ tên thì tôi khỏi cần nhờ cậy. Tôi nghĩ với một tinh thần cụ thể như vậy, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân thì cơ quan chuyên ngành sẽ truy tìm ra dễ dàng.
Sau nửa giờ cho nhân viên tìm tòi, Quý cấp này bất lực nhưng anh nhiệt tình chỉ cho tôi một con đường.
Tôi cảm ơn rồi sang văn phòng Bộ GTVT cách đó vài trăm thước tìm ông V.Q. V., Vụ phó vụ Pháp chế của Bộ. Ông V rất nhiệt tâm, ông cùng tôi trao đổi rất chân tình và tán đồng nhiều quan điểm về xe công nông như nêu trên nhưng khi tôi nói nó đã bị cấm rồi thì ông rất ngạc nhiên :“Thế cấm rồi à…ai cấm?”.
Tôi nói chỗ bác cấm, bây giờ tôi cần một văn bản gốc để tiện cho việc phản bác.
Ông rất nhiệt tình vào cuộc nhưng sau nửa giờ, không được. Lý do ông nêu cũng như bên sở GTVT “muốn tìm phải có tên văn bản!”
Khi về nhà, tự xoay xở tìm tòi, thấy tình hình đúng như các vị trên nói: mỗi ngày có bao nhiêu văn bản pháp quy ra đời, mỗi kỳ họp Quốc hội lại thông qua vài luật mới, sửa đổi vài luật cũ, nếu không biết tên, không biết đâu mà lần.
Nếu bây giờ, đề nghị một đại biểu Quốc hội chỉ kể tên thôi, cho 30 bộ luật, cũng khó mà bơi hết.
Sự thật thứ nhất là như vậy đấy.
Sau đó, ông V. đề nghị tôi để lại số điện thoại để gọi lại khi tìm được văn bản. Tôi cảm ơn rồi về.
Hai ngày sau ông V gọi điện, lính của ông đã tìm được văn bản gốc. Sau khi nhận từ tay ông tôi nêu thắc mắc sao trước đây ông không biết về văn bản này?
Ông đáp: đây là dự thảo của bên Vụ…kỹ thuật, sau đó Bộ chuẩn y và ban hành, thực hiện!
Sự thật thứ hai, đúng như Tiến sỹ Chu Hải Thanh, Phó giám đốc Học viện Tư Pháp nói: Luật đến từ mọi nguồn, được soạn từ nhiều ngành, mỗi ngành soạn theo chủ quan của ngành ấy. Ở Quốc hội thì không phải đại biểu nào cũng rành luật nhưng họ lại được quyền biểu quyết để thông qua hay không.
Từ thực tế đó, trong nửa thế kỷ qua , chúng ta đã có một rừng luật.
(Còn nữa)
Bài và ảnh: Nguyễn Huy CườngTamnhin.net