Kỳ 2: “ĐỊA NGỤC” VÀNG VÀ “THAN THỔ PHỈ”
Trong quá khứ, nhiều hầm vàng, mỏ than nằm tận rừng sâu của tỉnh Quảng Nam vốn là nơi “định cư”, trú ẩn an toàn của nhiều tội phạm nguy hiểm. Những thành phần bất hảo này thường được người dân địa phương gọi là “vàng tặc” hay “than thổ phỉ”. Còn hiện nay thì sao? Dưới “địa ngục” vàng và than hầu hết là người lao động lương thiện. Họ bị dồn đến đường cùng, buộc phải mưu sinh trong chốn tai ương, chết chóc.
“VÀNG TẶC” BẤT ĐẮC DĨ?
Chúng tôi trở lại các bãi đào vàng nằm tận rừng sâu của huyện Phước Sơn (Quảng Nam) vào một ngày giữa tháng 3-2011. Là thời điểm cuối xuân đầu hè mà thời tiết ở đây vẫn rất khắc nghiệt. Mưa phùn, giá buốt thấu xương, cứa vào da thịt con người. Thế nhưng cảnh mưu sinh trên bãi vàng Núi Đỉnh (giáp xã Phước Thành) vẫn diễn ra như những ngày bình thường. Nhiều trung niên, thanh niên và phụ nữ già yếu vẫn cặm cụi dùng máng sàng đãi, tích lắng từng hạt vàng sa khoáng dưới thời tiết lạnh cóng.

Bị dồn đến đường cùng vì mất đất canh tác, người miền núi buộc phải vào rừng sâu đào đãi vàng mưu sinh
Thấy tôi bước đến bên cạnh, bà Hồ Thị N. (70 tuổi, ngụ xã Phước Thành) quệt vội những mảng đất còn bám lại trên khuôn mặt già nua, hốc hác cười tươi tiếp chuyện. Tôi hỏi: “Sao bà già yếu thế này rồi mà không ở nhà với con cháu lại ra đây lao động cho cực?”. Bà cụ trả lời trong tiếng nấc khi hai hàm răng cứ va vào nhau vì lạnh: “Ở nhà sao được cháu. Đất đai canh tác thì bị các công ty, doanh nghiệp làm vàng chiếm hết rồi. Nông dân miền núi ở đây còn việc gì làm hơn nữa. Đào đãi thế này cả ngày còn mong kiếm được bát cháo”.
Anh Hồ Văn T. (34 tuổi, ngụ xã Phước Thành) cho biết: “Ngày trước, gia đình tôi bám theo con lươn nằm dọc các khe suối, dòng sông còn trồng được củ khoai, củ sắn, củ mài mà ăn. Còn bây chừ thì không được nữa. Họ bảo là đất của công ty này, công ty nọ và có giấy phép của UBND tỉnh Quảng Nam cấp hẳn hoi. Cấm bà con ra vào canh tác ở khu vực này...”.
Gặp chúng tôi, nhiều người dân ở các xã miền núi Quảng Nam bày tỏ bức xúc vì đất đai gia đình bị các công ty, doanh nghiệp khai thác vàng vô cớ đến khoanh vùng rồi chiếm luôn. Bên cạnh đó, tình trạng thải chất độc tràn lan từ khai thác vàng làm nhiều phần đất còn lại của họ không thể canh tác. Hết đường mưu sinh, người dân địa phương đành cầm cuốc, cầm xẻng và dụng cụ sàng đãi thủ công vào tận rừng sâu chui hầm đào đãi vàng sa khoáng.

Phu than kể về công việc lam lũ, cực nhọc và đầy hiểm nguy nơi hầm hố “vàng đen”
Vì phần lớn là người nghèo, mưu sinh trong chốn hiểm nguy rình rập và đặc biệt là không có giấy phép khai thác khoáng sản, ít nhiều có ảnh hưởng đến môi trường nên bị cơ quan chức năng Quảng Nam truy quét. Lúc bị dồn đến đường cùng, người dân buộc phải liều mạng trốn vào rừng sâu tiếp tục mưu sinh và trở thành “vàng tặc” bất đắc dĩ.
Trưa 22-3-2011, trong vai những người đang cần việc làm, tôi và anh bạn đồng nghiệp thâm nhập vào một bãi làm vàng trái phép nằm tận rừng sâu của huyện Phước Sơn. Thấy người lạ xuất hiện, mấy phu vàng đang làm vội bỏ cuốc xẻng, hướng mắt nhìn chằm chằm vào chúng tôi dò xét. Nhưng sau khi nghe tôi nói cụ thể về “lý lịch” từng người và đặc biệt là nơi quen biết của Quý “đá đỏ”, người đàn ông trạc 50 tuổi, làn da rám nắng mới giới thiệu tên là .H (trú xã Phước Thành, cha ruột của bốn thanh niên đang làm vàng tại đây). Anh bảo: “Thấy các chú vào lần đầu, tui cứ tưởng là cán bộ môi trường đi khảo sát, theo dõi tụi tui để sắp tới đưa quân truy quét nên mới đề phòng. Còn là người cùng khổ với nhau thì mời mấy chú ngồi xuống đây, tui rót bát chè chát uống cho ấm bụng”.
Trò chuyện một lúc, khi đã trở nên thân mật, tôi khơi chuyện để H. chia sẻ:
- Gia đình anh vào đây đào đãi vàng lậu lâu chưa? Nghề này chắc cũng khó khăn, vất vả lắm? Em nghe nói thỉnh thoảng còn bị truy đuổi nữa?”.

Sau những trận mưa lớn dài ngày, những hầm than sâu thăm thẳm, chèn chống sơ sài như thế này có thể đổ sập bất cứ lúc nào
Không ngần ngại, H. bộc bạch: “Ở chốn thâm sơn cùng cốc này kiếm được đồng tiền cực lắm chú ạ. Để có được ít ly vàng sa khoáng, năm cha con tui phải chui rúc làm quần quật dưới hầm sâu suốt cả tháng trời. Cái giá phải trả không chỉ là mồ hôi, nước mắt mà đôi lúc cả chính mạng sống của mình. Nhưng đó vẫn chưa thấm vào đâu so với những lần bị cơ quan chức năng rượt đuổi, truy quét. Hì hục đào bới cả tháng trời mới được một cửa hầm, chuẩn bị “thu hoạch” thì phải bỏ của chạy lấy người...Đời khai thác vàng lậu là vậy đó”.
Qua câu chuyện H. cho biết, gia đình anh có sáu miệng ăn, trước đây các công ty khai thác vàng chưa khoanh vùng quản lý, anh cùng vợ và mấy đứa con còn trồng được nương bắp, nương khoai dưới chân núi. Còn bây giờ thì đất đai đều bị chiếm hết. Họ không được phép canh tác trên những thửa ruộng, lô đất do chính bàn tay mình khai hoang mà có.
Theo quan sát của chúng tôi, phần lớn đồi núi ở phía tây Quảng Nam chủ yếu nằm ở vị thế cao, độ dốc rất lớn nên việc tìm kiếm cái ăn bằng cách phát rẫy để ươm cây bắp, củ khoai là rất khó khăn. Bao đời nay, người dân miền núi luôn cố gắng chọn những mảnh đất có màu nằm dọc con sông, con suối hoặc sát chân núi để khai hoang, vỡ đất. Nhưng 5 năm trở lại đây, việc UBND tỉnh Quảng Nam cấp giấy phép tràn lan cho nhiều công ty, doanh nghiệp khai thác vàng sa khoáng phía thượng nguồn khiến người dân mất đất canh tác. Điều này đẩy nhiều gia đình đến đường cùng, buộc họ phải phá rừng, đào đãi vàng sa khoáng trái phép để sinh tồn.
Đây là thực trạng nhức nhối đưa một bộ phận người dân miền núi “thấp cổ bé họng” trở thành “vàng tặc” bất đắc dĩ.
NƯỚC MẮT “VÀNG ĐEN”
Tương tự cảnh mưu sinh ở các bãi vàng nằm tận rừng sâu, phu than ở hai mỏ “vàng đen” An Điềm, Khe Tre (xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) cũng đang phải làm việc trong chốn hiểm nguy và tai họa khôn lường. Ngày chúng tôi đến tác nghiệp, hầu hết phu than được gắn mác công nhân ở đây vẫn miệt mài chui rúc dưới những căn hầm sâu hoắm. Thân hình của họ đen đúa, gầy nhom vì suốt ngày phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại, lòng đất thiếu dưỡng khí mà không có dụng cụ bảo hộ lao động.

Lán của người dân dựng lên để cư trú và khai thác vàng sa khoáng
Nhìn làn khói bay quây tròn phả ra từ bó hương đang cháy dở bên miệng hầm than, tôi bỗng giật mình khi nghĩ về số phận của những con người nơi đây. Sinh mạng của họ như ngọn đèn dầu trước gió có thể bị “thần núi” tước đoạt bất cứ lúc nào. Đã có biết bao vụ sập hầm chôn vùi thân xác con người dưới hàng ngàn khối đất đá. Cứ sau những trận mưa dầm dài ngày, sự đứt gãy đột ngột của tầng đất, vỉ than dưới tác động của bàn tay con người, những căn hầm được chèn chống thủ công, đơn sơ có thể đổ sập cướp đi sinh mạng phu than.
Vừa chui ra từ hầm sâu gần 20m, phu than Lê Văn Tình (50 tuổi, ngụ xã Tân Phúc, huyện Lăng Chánh, tỉnh Thanh Hóa) -người có thâm niên 5 năm trong nghề ở mỏ than Khe Tre tâm sự: “Làm nghề này vất vả và bạc lắm chú ạ. Chỉ cần không thận trọng và thiếu may mắn một chút là mất mạng như chơi. Dù vậy, vì bát cơm manh áo của vợ con ở nhà, tụi tui vẫn phải liều mình làm việc”.
Chứng kiến những phu than trong bộ quần áo rách nát tả tơi chui rúc dưới từng căn hầm lộ thiên sâu hoắm, chúng tôi mới thực sự cảm nhận được sự vất vả, khó nhọc và hiểm nguy của công việc. Trao đổi với chúng tôi, đa phần phu than ở đây đều cho biết, để có 70 ngàn đồng tiền công mỗi ngày, họ phải làm việc quần quật từ 7 giờ sáng đến 6 giờ chiều trong chốn “địa ngục vàng đen”.
Lương Văn Phương (22 tuổi) - công nhân một công ty khai thác “than thổ phỉ” ở Khe Tre kể cho tôi nghe về sự lam lũ, tủi nhục mà Phương phải gánh chịu để có được đồng tiền từ than. Câu chuyện của Phương như một lát cắt phơi bày mảnh đời của em, thân phận của em và cũng là của vô số con người mưu sinh bên “miệng tử thần”.
Xòe đôi bàn tay có nhiều cục u, vọ vẹo là di chứng của những lần tai nạn lao động và làm việc quá sức, Phương nói: “Quê em ở tận xã Thắng Sơn, huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa. Cách đây ba tháng, em theo mấy đứa bạn ở quê vào mỏ than Quảng Nam mưu sinh. Nhưng công việc quá nặng nhọc, nguy hiểm, đã bao lần em tính bỏ về quê làm ruộng nhưng chủ bưởng chưa chịu thanh toán tiền lương...”.
Đêm xuống, bên ly rượu nồng cùng người lao động bần hàn ở mỏ than Khe Tre, chúng tôi đã được họ tâm sự, sẻ chia nỗi gian truân, cực nhọc trong công việc và cuộc đời nơi hầm sâu. Đã có phu than vì mưu sinh nơi tha phương mà phải xa vợ, xa con gần 5 năm nay chưa một lần gặp mặt. Cũng có người vừa xong mùa vụ ở quê liền vội bỏ cuốc, thả cày lên đường kiếm sống trong chốn hiểm nguy. Mỗi người một mảnh đời, một hoàn cảnh riêng nhưng tất cả đều chung một công việc thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt nơi khai thác “vàng đen”.
(Còn tiếp)Nguyên Dũng (CATP)