Một người bị giam tại trụ sở cơ quan công an, được biết là dưới danh nghĩa tạm giữ hành chính, và đã chết trong thời gian giam giữ. Câu chuyện ngay lập tức trở nên rối rắm bởi sự xuất hiện của hàng đống thông tin đủ loại, từ việc một điều tra viên có những lời lẽ “gạ tình” bậy bạ đối với vợ của người bị bắt xấu số, việc bây giờ chẳng biết gọi vụ bắt người vừa qua là tạm giữ hay tạm giam, cho đến việc nghi vấn về nguyên nhân thật dẫn đến cái chết của nhân vật chính.
| Luật pháp hiện hành ở nước ta cũng có các quy định tương đối cụ thể về bắt giữ, giam người trong khuôn khổ xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. |
Tạm gác qua một bên những câu hỏi về tính xác thực của các thông tin gây sốc xoay quanh vụ việc thu hút sự chú ý của các phương tiện truyền thông và cả câu hỏi liệu người bị bắt có thực sự là thủ phạm của một vụ trộm cắp quy mô lớn nào đó; người ta dễ nhận ra vấn đề nhức nhối còn lại: rốt cuộc, việc bắt giữ người đã được thực hiện dựa trên những căn cứ nào? Trong hoàn cảnh nào một cơ quan công an có thể đưa một người đang sống bình yên vào vòng lao lý, mà không cần đến vai trò giám sát, phán xét của viện kiểm sát, toà án?
Trong xã hội có tổ chức và thượng tôn pháp luật, việc đặt một người trong tình trạng mất tự do, như trong trường hợp bắt tạm giữ, tạm giam hoặc buộc thi hành án phạt tù, được coi là ngoại lệ đối với nguyên tắc và phải được thực thi trên cơ sở những quy định rành mạch, chặt chẽ. Riêng việc tạm giữ người thường chỉ được ghi nhận trong trường hợp phạm pháp quả tang hoặc, trong khuôn khổ một hoạt động tác nghiệp của nhà chức trách theo quy trình, một người nào đó là đối tượng tác nghiệp bị phát hiện ở trong tình trạng bất hợp lệ về phương diện đi lại trong không gian chung. Ví dụ điển hình của việc tạm giữ người thuộc loại thứ hai này là trường hợp người lái xe phạm luật mà không xuất trình được giấy tờ tuỳ thân, cho phép nhận dạng và xác định trách nhiệm pháp lý.
Vả lại, một người mất tự do chắc chắn không ở trong tư thế và trạng thái tâm lý cho phép đôi co với nhà chức trách một cách như ý muốn nội tâm, để tự bảo vệ mình; bởi vậy, luật pháp cho phép người bị bắt yêu cầu mời luật sư của mình đến ngay từ thời điểm bị bắt, để tư vấn và hỗ trợ về tinh thần. Luật cũng đòi hỏi đại diện cơ quan công lực, khi bắt giữ người, phải báo ngay cho người bị bắt về các quyền của họ. Thực ra hầu như không thể đặt một cơ chế kiểm tra khách quan nào để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ này của cơ quan công lực. Tuy nhiên, trong điều kiện một xã hội mà việc tuân thủ pháp luật dựa vào ý thức tự giác và bản thân thành viên xã hội được giáo dục để có nhận thức đúng về tự do của mình, không khó để đặt các chủ thể trong khung ứng xử được xã hội đặt ra.
Luật pháp hiện hành ở nước ta cũng có các quy định tương đối cụ thể về bắt giữ, giam người trong khuôn khổ xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, kiểu làm luật theo cùng một cách như người ta hoạch định chính sách vĩ mô khiến cho nhiều điều luật trở nên chung chung, mập mờ. Cả các chế độ pháp lý liên quan đến tự do thân thể, đến tài sản tư cũng không thoát khỏi căn bệnh đó. Chẳng hạn, một điều luật trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính cho phép bắt giữ người một khi cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm. Với một quy định như thế, rất khó chỉ ra đâu là ranh giới giữa được và không được quyền bắt.
Một cách tự nhiên, khi luật pháp không rõ ràng, chưa nói đến sự thiếu vắng ý thức tôn trọng pháp luật, thì kẻ mạnh có xu hướng phát huy thế mạnh của mình để giành phần thắng. Điều đó giải thích hiện tượng lạm quyền của một số nhân viên công lực trong việc thực hiện các quy định của luật pháp về câu thúc, chế tài, mà vụ bắt giữ người dẫn đến cái chết chưa rõ nguyên nhân trong câu chuyện vừa nêu là một minh hoạ.
Nhiều việc phải làm để không còn phải thấy, nghe nói về những chuyện buồn tương tự. Nhưng chắc chắn có hai việc thuộc trách nhiệm của nhà chức trách: thứ nhất, cần nhanh chóng thay thế những điều luật mà ai muốn hiểu thế nào cũng được bằng những quy định rõ ràng, dứt khoát và rành mạch; thứ hai, cần bảo đảm rằng pháp luật chiếm lĩnh vị trí tối thượng trong các hệ thống chuẩn mực khách quan, được áp dụng trực tiếp và nhất quán cho tất cả các chủ thể, không phân biệt giàu hay nghèo, nam hay nữ, quan chức hay thường dân,…
SGTT