Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

“Tự sáng tạo” hay “nhập khẩu”?

18/09/2011 15 phút đọc Nguyên Tấn
Tại cuộc hội thảo về rà soát 16 bộ luật do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức gần đây, nói
“Tự sáng tạo” hay “nhập khẩu”?

Tại cuộc hội thảo về rà soát 16 bộ luật do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức gần đây, nói  đến những bất cập của Luật Đầu tư và nhiều luật khác, TS. Lê Nết, Công ty Luật LCT Lawyers, đã kêu lên: “Chúng ta cứ làm luật theo kiểu mò mẫm chỉnh sửa, chắp vá như thế này thì rồi sẽ đi đến đâu? Cái bánh xe người ta đã làm ra rồi, liệu có cần “sáng tạo” lại và liệu có còn thời gian để “sáng tạo” nữa không?”.

Liên tục sửa đổi

minh họa: Khều.

 

Băn khoăn của TS. Lê Nết cũng là bức xúc chung của xã hội về chất lượng luật lệ và cách thức làm luật hiện nay. Có thể nói, chưa bao giờ pháp luật được ban hành nhiều như những năm gần đây. Mỗi năm, có hàng chục đạo luật và hàng ngàn văn bản dưới luật ra đời, góp phần vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng đồng thời, cũng chưa bao giờ luật lệ lại phải liên tục chỉnh sửa như thời gian qua.

Đầu tiên có lẽ phải kể đến hệ thống pháp luật về nhà đất. Trong số đó, chỉ riêng Luật Đất đai đã có sáu lần sửa đổi (1987, 1993, 1998, 2001, 2003, 2009), tức trung bình cứ 3,6 năm sửa một lần. Và cứ sau mỗi lần chỉnh sửa như vậy, hàng triệu người dân lại phải một phen “toát mồ hôi hột” vì sự thay đổi. Đặc biệt là những thay đổi liên quan đến những cuốn sổ hồng, sổ đỏ đã từng tốn không biết bao nhiêu giấy mực tranh cãi. Theo dự kiến của Quốc hội, tới đây bộ luật này sẽ còn tiếp tục được sửa đổi, bổ sung nữa!

Hay như về đầu tư nước ngoài, trong vòng 18 năm đã có sáu lần ban hành và sửa đổi luật (1987, 1990, 1992, 1996, 2000, 2005). Luật Đầu tư hiện hành (2005) được xem như một sự “sáng tạo đột phá” để hình thành sân chơi chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cũng đang vấp phải làn sóng kiến nghị sửa đổi hoặc bãi bỏ. Tuổi thọ của các đạo luật, theo các chuyên gia, chỉ cỡ 4-5 năm, thậm chí có thể còn thấp hơn nữa. Chẳng hạn, Luật Khiếu nại tố cáo ban hành vào năm 1998 và vừa được sửa đổi vào năm 2004 thì ngay trong năm sau đó, 2005, lại tiếp tục sửa đổi.

Tương tự, Pháp lệnh Cán bộ, Công chức ra đời năm 1998, vừa sửa đổi vào năm 2000 thì đến năm 2003 sửa tiếp và đến năm 2008 thì được thay thế bằng Luật Cán bộ, Công chức. Thậm chí, có những trường hợp luật vừa được ban hành đã lập tức lạc hậu và không thể thực thi vì “đá lộn” với các luật khác. Ví dụ như Luật Sở hữu trí tuệ (trái với Hiệp định song phương Việt-Mỹ về thời hạn bảo hộ tác quyền); Luật Nhà ở (trái với Luật Đất đai về giấy tờ nhà đất)… Để có thể được thực thi, những luật này sau đó lại phải được sửa đổi.

Với các văn bản dưới luật, tình hình còn… bi đát hơn nhiều. “Rất nhiều nghị định của Chính phủ hoặc thông tư, quyết định của các bộ, ngành chỉ một, hai năm, thậm chí vài tháng đã phải sửa đổi, thay thế. Thay đổi đến mức chóng mặt, ngay như chúng tôi cũng không thể cập nhật hết”, luật sư Nguyễn Thanh Tâm, cho biết.

Nên tiếp thu

Theo TS. Lê Nết, cách làm luật của ta hiện nay giống như kiểu “đẽo cày giữa đường”. Ta tự mò mẫm, sáng tạo luật cho “phù hợp hoàn cảnh Việt Nam”. Thế nhưng, như đã nêu, hầu hết các đạo luật đều gặp trục trặc trong quá trình thực thi. Khi ấy, luật lại được đưa ra sửa đổi, “đẽo” hoài cuối cùng thành ra một sản phẩm “chẳng giống ai”.

Các chuyên gia cho rằng con đường nhanh nhất, ít tốn kém nhất để cải thiện hệ thống pháp luật là nên tiếp thu những thành tựu pháp luật của thế giới. Thậm chí, trong một số trường hợp có thể “nhập khẩu” cả bộ luật cụ thể để áp dụng. “Trước đây, người ta cười Campuchia vì họ bê nguyên xi luật công ty của Mỹ, chỉ khác là có cái dấu đỏ chót của Quốc hội Campuchia vào đó. Thế nhưng, không chỉ Campuchia mà Singapore, Malaysia, Nhật, Hàn Quốc… cũng đều làm như thế cả”, TS. Lê Nết dẫn chứng.

TS. Nguyễn Vân Nam cũng cho biết Bộ luật Dân sự nổi tiếng của Đức (BGB) đã từng được nhiều nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan tự nguyện tiếp thu vì họ thấy được những lợi ích to lớn mà bộ luật này mang lại. “Đặc biệt, như Nhật Bản tiếp thu gần như hoàn toàn một trong những dự thảo BGB. Họ chỉ sửa rất ít nhằm phù hợp với bản sắc dân tộc trên cơ sở không được làm hỏng triết lý, tư tưởng của nó mà thôi”, ông Nam nói. Theo ông Nam, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường và đang hội nhập với thế giới thì không có lý do gì để phải “sáng tạo” cái mà người ta đã đi trước hàng trăm năm nay. “Đa số những vấn đề pháp lý chúng ta đang vướng mắc hiện nay đều đã được pháp luật của nhiều nước giải quyết từ rất lâu rồi”, ông Nam cho biết.

Đồng tình với ý kiến trên nhưng TS. Nguyễn Quốc Vinh, người từng công tác ở một cơ quan soạn thảo pháp luật, cũng khuyến cáo về khả năng thất bại nếu chỉ tiếp thu mà không hiểu một cách thấu đáo tinh thần, gốc rễ của luật. “Chính Nhật Bản đã từng xây dựng bộ luật dân sự trên nền tảng bộ luật của Pháp, sau đó đã phải vứt bỏ ngay. Tương tự, trong thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, dưới sức ép của IMF, chỉ trong vài chục ngày Indonesia đã xây dựng xong luật phá sản mới dưới sự cố vốn của chuyên gia nước ngoài. Hậu quả là luật này cũng “phá sản” luôn!”.

TS. Vinh cho rằng trong hoạt động xây dựng pháp luật, thực tế Việt Nam có tiếp thu pháp luật của thế giới. Tuy nhiên, vì nhiều lý do việc tiếp thu thiếu tính hệ thống và thiếu vắng một triết lý pháp luật nào rõ ràng. Ví dụ như Bộ luật Dân sự vừa chịu ảnh hưởng của pháp luật Xô viết (liên quan đến những quy định về hành chính trong bộ luật), vừa có dáng dấp của luật dân sự Pháp, lại vừa ảnh hưởng một chút của Nhật - Đức. Sự chắp vá không chỉ gây mâu thuẫn giữa luật này với luật khác mà ngay trong cùng một luật các điều khoản cũng tự triệt tiêu lẫn nhau.

Theo ông Vinh, không phải Việt Nam không có những chuyên gia giỏi và tâm huyết về xây dựng pháp luật. Tuy nhiên không ít trường hợp dự thảo của họ đã không còn giữ được cái “hồn” tư tưởng pháp lý do bị cắt, cúp, sửa đổi qua các tầng nấc thủ tục trình duyệt. Việt Nam nên tránh sự can thiệp hành chính vào công tác chuyên môn. Ngoài ra, lấy kinh nghiệm từ Nhật Bản, trong công tác xây dựng luật, Việt Nam nên thay đổi từ thế thụ động sang thế chủ động. Có nghĩa, nên chủ động mời những chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài soạn thảo luật cho mình, để mình sử dụng. Tránh hiện tượng làm luật, sửa luật theo đề xuất của nhà tài trợ nước ngoài. Cuối cùng, luật khi đã được ban hành thì phải được thi hành, đừng để bị coi là vật trang sức.

Đừng tưởng như thế là “sáng tạo”!

Một ví dụ khác về sự tiếp thu chắp vá, nửa vời được TS. Nguyễn Vân Nam đưa ra là về Luật Cạnh tranh.

Chẳng hạn, Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức và nhiều nước ở châu Âu quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Ai trong giao dịch kinh doanh nhằm mục đích cạnh tranh mà thực hiện những hành vi vi phạm đạo lý thì có thể bị buộc phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại”.

Luật Cạnh tranh của ta cũng có quy định tương tự nhưng lại bổ sung thêm điều kiện hành vi đó phải “gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại”. “Ta tưởng thêm vào như vậy là sáng tạo nhưng hóa ra lại khuyến khích cho hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vì muốn xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì bắt buộc phải chứng minh có sự thiệt hại. Nói cách khác, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được cho phép nếu thiệt hại chưa xảy ra hoặc không xác định được”, ông Nam nói.

Nguyên Tấn (TBKTSG) 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu