Câu chuyện bác sĩ Trung Quốc bỏ trốn sau khi gây ra cái chết cho bệnh nhân tại phòng khám Maria được các ĐBQH nêu ra trong phiên chất vấn để minh chứng cho việc quản lý lao động nước ngoài lỏng lẻo? Ông Bùi Sỹ Lợi (Phó Chủ nhiệm UB các Vấn đề xã hội của QH) chất vấn lại: Thứ trưởng nói phường nắm chắc lý lịch người nước ngoài trên địa bàn. Vậy mà khi xảy ra vụ phòng khám Maria làm chết người, các bác sĩ Trung Quốc đã rời Việt Nam từ lúc nào lại không nắm được? Thứ trưởng Tô Lâm trả lời: Phòng khám Maria với các dấu hiệu vi phạm như do người Trung Quốc đầu tư, thuê người đứng tên, không tuân thủ quy định ký kết hợp đồng lao động, có bác sĩ nước ngoài khám “chui”, gây chết người… cũng là do công an phát hiện, kiến nghị ngành y tế kiểm tra, xử lý.
Ông Bùi Sỹ Lợi đặt vấn đề nghi vấn con số hơn 77.000 lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam là rất “có vấn đề”. Bởi, qua giám sát thấy nhiều địa phương không nắm được số lao động này trên địa bàn của mình. “Một số đồng chí công an nói cấp phường nắm rất tốt nhưng càng lên trên thì càng khó kiểm soát được. Vậy làm cách nào để các bộ và UBND các địa phương có thể phối hợp quản lý được vấn đề này?” - ông Lợi đặt câu hỏi.
Nhiều ý kiến khác đặt vấn đề: Trong khi ở nơi đâu cũng thấy cảnh thất nghiệp của người lao động VN, thì tính đến tháng 7.2012 đã có hơn 77.000 lao động là người nước ngoài đang làm việc tại VN (trong đó có gần 27.000 lao động “chui”) – đây là sự “lấn át” đang lo ngại, không thể chấp nhận? Thứ trưởng Tô Lâm phân tích: Sự xuất hiện lao động nước ngoài ở Việt Nam xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế, đó là nhiều dự án do nhà thầu nước ngoài thực hiện nên họ đưa lao động sang. Chưa kể một tỉ lệ lớn lao động lách luật bằng đường du lịch.
Chính phủ đã có nhiều giải pháp chấn chỉnh, nhưng việc thực hiện vẫn chưa nghiêm, sự phối hợp giữa các cơ quan chưa nhịp nhàng. Chưa kể, nhiều văn bản còn sơ hở khiến người lao động dễ lách luật.
Ông Tô Lâm không đồng tình với ý kiến đại biểu nêu rằng “cấp dưới quản chặt, cấp trên buông lỏng”. Bởi vì, sở dĩ có hiện tượng cấp phường nắm chắc, cấp T.Ư lại lúng túng vì bộ đã tiến hành phân cấp rất triệt để tới cơ sở, trên từng địa bàn khu dân cư, nhà máy, xí nghiệp. Bộ Công an cơ bản quản lý được hoạt động của người lao động nước ngoài nói chung cũng như tội phạm liên quan, ngăn chặn kịp thời những động thái gây mất an ninh, phá nhiều băng nhóm, tổ chức hoạt động xã hội đen từ Đài Loan sang, tội phạm công nghệ mạng…
Ông Bùi Sĩ Lợi lập luận về những con số thiếu thuyết phục: Gần 50% số lao động nước ngoài trình độ ĐH, trên ĐH là không chính xác. Thực tế, đa phần là lao động phổ thông. Độ tuổi lao động cũng đang còn trẻ nên không thể có tới gần 20% là nghệ nhân. Ông Tô Lâm giải thích: Tỉ lệ lao động nước ngoài vào làm việc “chui” ở Việt Nam nhiều nhất là qua con đường du lịch (44%). Số này vi phạm toàn diện, kể cả về thời hạn thị thực, visa. Xử lý nhóm này rất khó. Đưa vào các trung tâm quản lý xã hội hay trục xuất về nước đều vướng vì không đủ kinh phí, không đủ khả năng mua vé máy bay cho họ…
Trước nhiều ý kiến chất vấn về trách nhiệm để người nước ngoài lao động bất hợp pháp tại VN, Bộ trưởng LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền vẫn cho rằng: Bộ đã làm đúng chức năng của mình về yêu cầu đăng ký, cấp phép lao động. Riêng trường hợp lao động nước ngoài làm việc theo hợp đồng dưới 3 tháng quản lý chưa nghiêm. Nguyên nhân cũng do quy định còn sơ hở. Còn hiện tượng lao động Trung Quốc tràn lan, bà Chuyền thanh minh, cơ quan chức năng đã nắm tình hình, thực tế đã xử lý ở một số tỉnh Đồng Nai, Khánh Hòa nhưng biện pháp chưa đủ sức răn đe. Thứ trưởng Công an Tô Lâm cũng tán thành quan điểm thời gian tới tập trung xử lý nhóm lao động không phép với cách thức duy nhất là cho xuất cảnh. Trường hợp người vi phạm cố tình không xuất cảnh, ngành công an sẽ buộc trục xuất. Thời gian qua, Bộ Công an đã lệnh trục xuất 256 trường hợp, so với số hơn 24.000 lao động đang làm việc chui thì chưa thấm tháp gì nhưng số người được vận động để tự nguyện về nước cũng nhiều.
Theo báo cáo của các sở LĐTBXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, số lượng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tại thời điểm tháng 7.2012 là 77.087 lao động, trong đó, diện được cấp giấy phép lao động là 74.438 (số đã được cấp giấy phép là 49.983 người và số chưa được cấp giấy phép là 24.455 người), số lao động không thuộc diện cấp giấy phép lao động là 2.649 người (chiếm 3,44%). Lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó khu vực Châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan...) chiếm khoảng 58% tổng số lao động nước ngoài. Đ.L.T