Cổ vật hiếm thấy của Việt Nam thu hút người hâm mộ tại New York
Cuộc triển lãm ''Nghệ thuật Việt Nam cổ xưa'' do Hội Asia Society tổ chức tại New York, cùng với quyển sách do bà Nancy Tingley viết ra sau 20 năm dày công nghiên cứu, đã vạch rõ một số giai đoạn đã dẫn đến sự hình thành của đất nước mà ngày nay được gọi là Việt Nam.

Vật trang trí trong kiến trúc cổ - Thế kỷ thứ 6 - Đất nung - Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ảnh: mfah.org
Vén bức màn bí ẩn bao phủ hàng thế kỷ nghệ thuật tại Việt Nam. Dưới tựa đề trên đây, tờ International Herald Tribune xuất bản tại Pháp trong số ra cuối tuần này đã đăng lại một bài phê bình trên nhật báo Mỹ New York Times, trầm trồ khen ngợi cuộc Triển lãm cổ vật Việt Nam đang diễn ra tại New York cho đến đầu tháng năm. Theo tác giả bài báo, nhiều công trình nghệ thuật tuyệt hảo đã nêu bật một số thời kỳ vẫn còn bí ẩn đối vớI các sử gia.
Mở đầu bài báo, tác giả Souren Melikan khẳng định : ''Nghệ thuật có thể trực tiếp phơi bày những bí ẩn mà không một nhà nghiên cứu lịch sử nào giải đáp được''. Cuộc triển lãm ''Nghệ thuật Việt Nam cổ xưa'' do Hội Asia Society tổ chức tại New York, cùng với quyển sách do bà Nancy Tingley viết ra sau 20 năm dày công nghiên cứu, đã vạch rõ một số giai đoạn đã dẫn đến sự hình thành của đất nước mà ngày nay được gọi là Việt Nam.

Tác giả bài báo ghi nhận chẳng hạn tính chất tinh vi của các vật dụng bằng đồng tại vùng Đông Sơn ở Thanh Hoá, phản ánh một nền văn hoá cực thịnh đã khởi đầu từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên và kéo dài trong vòng ít nhất 600 năm. Thế nhưng tiếc thay, ngày nay không ai biết gì về những người đã làm ra các vật dụng đó, thậm chí tính danh tác giả cũng không thấy. Giả dụ rằng những người này có chữ viết, thì hệ thống mẫu tự đã hoàn toàn mai một.
Người Trung Quốc, vốn rất thích bành trướng lãnh thổ, đã nhắc đến vùng này trong sử sách của họ. Tuy nhiên, vì chỉ chú ý đến các vật dụng du nhập vào đất họ, hay những cống vật mà dân ''man di'' cung phụng cho thiên triều, người Trung Quốc đã không thèm giải thích là bằng cách nào và bằng ngôn ngữ nào mà họ đã giao tiếp với dân ở phương Nam.
Tác giả cũng không tránh khỏi ngạc nhiên khi nhận ra rằng một số cổ vật Đông Sơn không chỉ được tìm thấy ở Trung Quốc, mà cũng giống những gì được phát hiện ở vùng Trung Đông, như tại Iran hồi thế kỷ thứ I trước Công nguyên, hay tại Ai Cập vào thế kỷ thứ 2 trước Thiên Chúa.

Về sau, đặc biệt là từ khi viên tướng Trung Hoa Mã Viện đè bẹp cuộc khởi nghĩa của cư dân tại chỗ, thiết lập ách đô hộ, bắt đầu xuất hiện một số dấu tích văn hoá Trung Quốc. nhưng chỉ phiếm diện bề ngoài mà thôi. Tác giả bài báo lấy thí dụ từ một chiếc bình bằng đồng, mô phỏng kiểu bình nhà Hồ của Trung Quốc. Thế nhưng dáng vẻ chiếc bình hoàn toàn không có gì là Trung Quốc. Không những tỷ lệ đã khác, mà những chi tiết trên chiếc bình cũng hoàn toàn khác, không thấy bên Trung Quốc. Một hàng chữ tàu trên cổ bình thì lại được khắc một cách ngập ngừng, bằng một bàn tay rõ ràng là không quen viết chữ Hán.

Tượng Vishnu bằng đất nung, thế kỷ 11 (DR)
Đi xuống phiá Nam, là một nền văn hoá sinh động và bí hiểm khác. Một chiếc bông tai bằng ngọc thạch, đào được vào năm 1994 tại khu vực Tành phố Hồ Chí Minh, phản ánh một cố gắng cách điệu hoá hình thù thú vật tiến gần đến phong cách trừu tượng. Đồ gốm tìm thấy ở nơi này cũng biểu hiện xu hướng nghệ thuật đó, chẳng hạn như một chiếc bình bằng đất sét nung với các mô tif đầy góc cạnh.
Các cổ vật theo xu hướng gọi là ''trừu tượng'' đó tồn tại song song với những tác phẩm tượng hình. Một con tê tê bằng đồng tìm thấy ở vùng Đồng Nai được xác định là được làm ra trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, đến thế kỷ thứ hai sau Thiên chúa. Con tê tê rất sinh động và đẹp mắt này là một cổ vật độc nhất vô nhị, làm cho văn hoá Đông Sơn thêm kỳ bí.

Con tê tê bằng đồng, Long Khánh Đồng Nai, thế kỷ thứ 3. Viện bảo tàng Đồng Nai (DR)
Tệ nạn buôn bán con nuôi tại Việt Nam
Tạp chí Le Courrier International cũng quan tâm đến Việt Nam, nhưng trên mặt xã hội. Trích đăng bài phóng sự dài trên vấn đề con nuôi Việt Nam, tạp chí Pháp nêu bật thảm cảnh các bà mẹ trẻ, nghèo, phải bán con cho giới môi giới để họ bán lại cho người ngoại quốc tìm con nuôi.
Dưới tựa đề ''Viếng thăm một ''xưởng (sản xuất) em bé'', bên dưới dòng tiểu tựa ''trong hậu trường của việc nhận con nuôi'', Courrier International đưa độc giả đến tận Lạng Sơn, nơi mà theo tạp chí, các cặp vợ chồng khắp thế giới đến để xin con nuôi. Nhưng họ không biết là những trẻ sơ sinh mà họ nhận được là những đứa trẻ mà các bà mẹ đã bán, vì miếng cơm manh áo, với một khoản tiền nhỏ mọn.
Le Courrier trích dẫn ký giả nhật báo Hong Kong, South China Morning Post, Simmon Parry, đã giả danh một người muốn tìm con nuôi, tả cảnh ông đến một ngôi nhà không mấy sạch sẽ, sát cạnh một cô nhi viện, tiếp xúc với người môi giới, bà Tăng Thị Cai.
Đứa trẻ mà người ta đề nghị với tác giả bài báo, là một đứa bé trai tên Hoàng, 2 tháng tuổi, bụ bẩm. Giá đề nghị là 10 000 đôla. Tác giả bài phóng sự nhìn vẻ mặt của bà mẹ trẻ, phân vân, đau khổ, trong lúc mà bà môi giới thúc giục phải quyết định nhanh, vì bà đã bắt đầu làm thủ tục để giao đứa bé cho cô nhi viện. Bà còn nói thêm trước vẻ do dự của ông khách hàng, là nếu muốn con gái, thì cứ nói, bà có những bà sắp sinh nở. Có được cô bé gái thì bà sẽ gọi điện thoại để báo.
Tác giả bài phóng sự giải thích nếu ông từ chối đứa bé, thì nó sẽ được giao cho cô nhi Viện Lạng Sơn. Tại đây thì đứa bé, theo Simmon Parry sẽ được đề nghị với giá rất cao cho những người nước ngoài đến từ khắp nơi trên thế giới. Và trong lúc mà những người xin con nuôi chi hàng ngàn đôla thì các bà mẹ trẻ chỉ nhận những khoản tiền rất ít ỏi: 6 triệu đồng, 300 đôla. Họ mang thai và sinh nở trong tình trạng bần cùng khốn khổ. Tác giả bài phóng sự, mô tả cảnh sống của họ tại nhà của bà Cai.
Khi tỏ ý muốn tìm con nuôi, ông đã được đưa ra dãy nhà phiá sau. Trong một căn phòng là các bà mẹ đã sinh nở, nằm với con trên các chiếc giường bằng gỗ ọp ẹp, đặt sát cạnh nhau. Tại một căn phòng khác, một số phụ nữ bụng rất to nằm chờ ngày hạ sinh.
Bà Cai, theo bài phóng sự, cho họ ăn ở, ngược lại họ phải cam kết giao con cho bà. Trước mặt người khách, bà Cai có vẻ ngượng ngùng về điều kiện sống của các phụ nữ. Bà đã nói đùa: ông có thể mang bé Hoàng đi mà không phải trả tiền nếu ông mua quạt máy hay máy điều hoà không khí cho các căn phòng này. Trong cuộc kèo nài để bán bé Hoàng, bà Cai còn giải thích là nếu qua trung gian một cơ quan ở Hà Nội thì phải trả đến 16 000 đôla. Còn qua bà thì chỉ mất 10 000 đôla, để mang đứa bé đi, bà sẽ giới thiệu những người lo tất cả thủ tục hành chính.
Bài báo nhắc lại một báo cáo điều tra của Mỹ năm 2008. Các nhà điều tra đã nêu lên hiện tượng bán con. Những 'nhà hộ sinh' kiểu như nhà bà Tăng thị Cai, không ít. Đây là một nguồn cung cấp trẻ sơ sinh cho những người tìm con nuôi, trực tiếp qua nhũng người như bà Cai hoặc qua ngã chính thức.
Simmon Parry giải thích là trước ông 4 ngày, một nhóm 6 cặp vợ chồng người Ireland, xin con nuôi theo ngã chính thức, đã đến Lạng Sơn. Họ không dừng lại trước nhà bà Cai mà đến cô nhi viện. Mỗi cặp đã chi 7500 euro. Điều mà họ không biết là cuộc sống các trẻ mà họ mang đi, không bắt đầu ở làng của mẹ chúng, hay cô nhi viện mà là tại những nhà hộ sinh như của bà Cai. Người này khẳng định: 6 đứa trẻ mà các cặp vợ chồng Ireland xin được đều đến từ nơi bà. Nếu không có bà thì sẽ chẳng có trẻ nít để xin. Bà Cai đã làm nghề trung gian này từ 10 năm qua. Không có quảng cáo gì cả, tất cả đều truyền miệng nhau.
Trong phần kết luận, Simmon Parry, nhắc lại là các cặp vợ chồng Ireland vừa nhận được con nuôi, cho là hiển nhiên là các em bé sẽ có điều kiện sống tốt đẹp hơn nhiều ở Ireland. Nhưng những gì ông thấy được ở Lạng Sơn đặt ra nhiều câu hỏi nghiêm trọng về tiến trình xin và nhận con nuôi, về những người trục lợi và về các bà mẹ đáng thương.
Tác giả còn nhận thấy là đối với các bậc cha mẹ nuôi, trước mắt thì không có vấn đề gì, nhưng một khi các em này trưởng thành, tim hiểu về cội nguồn của mình, chúng sẽ nêu lên những câu hỏi mà các bố mẹ nuôi rất khó trả lời.
Cam Bốt: người nghèo tiếc là chùa không còn là nơi nương tựa của họ
Phải nói là sự kiện thời sự Châu Á, mà các tạp chí tuần này chú ý đến, khá tiêu cực. Ngoài Việt nam, tạp chí Courrier International còn chú ý đến số phận thảm thương của phụ nữ Bắc Triều Tiên trong hành trình tìm vùng đất lành nương thân, hoặc nhìn sang Cam Bốt, nơi mà chùa không còn là chỗ nương tựa của người nghèo.
Le Courrier trích dẫn tuần báo Cambodge Soir, nhận thấy là các ngôi chùa, các nhà sư trong cuộc chạy đua xây dựng chùa ngày càng rộng lớn, đẹp đẽ, đã quay lưng lại với nhiệm vụ trợ giúp người cùng khổ.
Bài báo tả cảnh bà Pich Thoeun, cùng với 5 người con, sống từ 8 tháng qua trong chùa Samaki Rainsey, ở Phnom Penh, được mệnh danh là chùa 'Kampuchea Krom'. Bà Pich Thoeun cho biết là khi đến Phnom Penh, bà không nơi nương tựa và được vị sự chủ trì cho ở trong chùa, và mấy đứa con được hướng dẫn học hành. Hiện nay theo bài báo có 7 gia đình được chùa giúp đỡ. Theo lời người cùng khổ này, thì chùa này là một ngoại lệ. những ngôi chùa khác không có sự tương trợ như thế, họ không muốn tiếp nhận người nghèo.
Tác giả bài báo đi một vòng mấy chùa lớn, như chùa Wat Saravann ở Phnom Penh, nơi có 265 nhà sư và khoảng 300 tu sinh: vị sư chủ trì bác bỏ những lời tố cáo, nhưng ông cũng công nhận 'cấm người nghèo sống trong chùa vì e sợ sự hỗn loạn'. Tại chùa Wat Langka, nhà báo cũng được câu trả lời tương tự : những người nghèo nhất thì nên đến các tổ chức phi chính phủ.
Theo bài báo, hai ngôi chùa đó không thiếu tiền: chùa Wat Saravann năm qua đã được 70.000 đôla tiền cúng dường, một ngân sách trung bình theo vị sư chủ trì. Những ngôi chùa lớn hơn có thể thu được 200.000 đôla. Trong bảng ghi danh những người cúng dường ở chùa Wat Saravann, tác giả bài báo thấy tên của nhiều lãnh đạo Cam Bốt, trong đó có cả thủ tướng Hun Sen.
Tác giả bài báo có vẻ lấy làm tiếc là thay vì dành cho những đề án hoạt động nhân đạo hay giáo dục. những khoản tiền cúng dường này lại đươc sử dụng để 'hiên đại hoá'' chùa như các sư giải thích, nhằm chứng minh là tiền cúng dường đươc sử dụng tốt.
Trung Quốc: Không được ăn thịt chó, mèo nữa?
Tạp chí Anh the Economist tuần này nhân khóa họp quốc hội Trung Quốc sắp tới đây chú ý đến đến một sự kiện hy hưũ ở nước châu Á, và khiến các nhà lập pháp Trung Quốc sẽ phải nhức đầu: đó là đưa ra dự luật như thế nào để cấm ăn thịt chó và mèo. Chỉ nêu lên vấn đề là đã làm dư luận sôi động lên.
Bài báo nhắc lại sự kiện một dự thảo luật bảo về 'quyền' thú vật đã được một số người và giới chuyên gia luât lưu truyền tháng 9 năm ngoái, một sự kiện chưa từng thấy ở Trung Quốc. Nhưng tầng lớp trung lưu phát triển nhanh chóng, ngày càng nhiều người nuôi chó và mèo, trong gia đình và rất thương những con vât được họ nuôi nấng. Điều này dĩ nhiên là gây xung đột, vì thói quen truyền thống ăn thịt chó từ trước đến nay.
Theo một số đề nghị thì phải cấm ăn thịt chó, xem đấy là phạm pháp. Những kẻ phạm tội bị phạt đến 5000 nhân dân tệ, hay bị phạt tù 15 ngày. Những đề nghị trên làm dấy lên làn sóng phản đối rất mạnh mẽ trên báo chí và trên mạng Internet. Quốc hội Trung Quốc công nhận cách đây hai năm có đề nghị cần có luật bảo vệ thú vật tốt hơn, nhưng cho biết rằng đây chưa phải là chủ đề nằm trong chương trình nghị sự.
Mai Vân, Trọng Nghĩa (RFI)