
Dân Okinawa biểu tình phản đối sự hiện diện của căn cứ Mỹ (Reuters)
Dưới tựa đề Hội chứng Okinawa, tạp chí L'Express nhận thấy chính phủ Nhật đang bị dồn vào chân tường trong hồ sơ căn cứ Mỹ tại đảo này. Khi còn là đảng đối lập, lãnh đạo đảng Dân chủ Nhật luôn hô hào phải dời đi các căn cứ này. Nhưng với thực tế cầm quyền, thì vấn đề không đơn giản chút nào. Tác giả bài phóng sự Marc Epstein và Philippe Mesmer, nhìn lại đảo phiá Nam Nhật Bản nơi tập trung phần lớn căn cứ quân sự Mỹ, mà người dân không chấp nhận nữa. Hệ quả là làm cho quan hệ Washington Tokyo căng thẳng lên. Không chỉ thế, hồ sơ căn cứ này còn đặt ra vấn ổn định của khu vực.
Đặt chân đến đảo dài độ 100 cây số, rộng khoảng 15 cây, nơi đóng trú của 25.000 quân lính Mỹ, phân chia trong hơn 30 căn cứ, tác giả bài phóng sự tìm hiểu mối hiềm khích, uẩn khúc của người dân Okinawa. Họ được nghe thấy những mẫu chuyện như nhà văn Shun Medoruna kể lại: ông thường nghe người cha nói về thời Đệ nhị thế chiến, lúc ấy cha của ông mới 14 tuổi khi bị bắt đi lính. Cây súng của ông nặng đến nổi ông vác nó một cách rất khó khăn. Ông nhớ lại ngày mà lính Mỹ đổ bộ với súng liên thanh và trang thiết bị tối tân, ông vội vã núp trốn dưới hào. Một người bạn đồng đội bên cạnh ngẩn đầu lên nhìn xem phiá xa. Một, hai giây phút sau, cha ông thút chỏ, hỏi: sao, thấy cái gì ? Hoá ra người bạn đã chết, một viên đạn bắn vào đầu.
Theo tác giả bài báo, những mẫu chuyện nư thế thường được người dân Okinawa gợi lên trong các cuộc trò chuyện. Phóng viên của L'Express cũng ghi nhận là tại đảo mà Mỹ đóng chiếm cho đến năm 1972, tức thêm 20 năm so với những vùng khác của Nhât Bản, cảm nhận người dân tại chỗ khá phức tạp. Họ cảm thấy họ là loại công dân thứ yếu, hứng chịu những điều mà những người các vùng khác không phải gánh. Phải chăng cũng do mặc cảm, do lãnh thổ của họ bị sát nhập vào giữa thế kỷ 19?
Người dân tại đây cũng không quên trận đánh giữa quân đội Nhật Hoàng và Mỹ từ mồng một tháng tư đến 23 tháng sáu 1945, làm 230.000 người chết phiá Nhật, mà một nửa là thường dân, trong lúc kết cục cuộc chiến đã thấy rõ. Họ cũng không quên việc quân đội Nhật lúc đó đã buộc hàng trăm người phải tự tử. Điểm này thì Tokyo vẫn tìm cách giảm nhẹ và lược khỏi các sách sử.
Trở lại với sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Nhật, bài báo nhắc lại Hiện pháp chủ hoà mà Hoa Kỳ áp đặt đối với Nhật sau chiến tranh: một sự giàn xếp làm mọi người hài lòng trong một thời gian khá dài. Quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc, Nhật Bản, đã đóng góp duy trì được hoà bình, trong 6 thập niên, tránh xung đột vũ trang ở Đông Á, mặc dù tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc - Đài Loan, hay giữa hai miền Triều Tiên. Riêng Nhật trao vấn đề bảo đảm an ninh của mình cho Hoa Kỳ, đã tập trung được năng lực vào việc phát triển kinh tế.
Dân Okinawa không còn chấp nhận các căn cứ Mỹ
Giờ đây, tình hình đã thay đổi. Nếu người "sen đầm" Mỹ vẫn được hoang nghênh thì sự hịện diện tại chỗ của họ lại đặt vấn đề. Bài báo giải thích một số lý do: nếu trong những thập niên trước đây người dân Okinawa dễ dàng chấp nhận các căn cứ quân sự Mỹ vì họ tạo ra công ăn việc làm: 50.000 làm việc cho Mỹ. Quân đội Mỹ lại chi tiêu nhiều. Nhưng từ thập niên 90, nhất là sau vụ một bé gái 12 tuổi bị hảm hiếp năm 1995, tình thế đã đổi khác. Người dân phẫn nộ, việc đi ra ngoài phố của lính Mỹ bị kiểm soát chặt chẽ hơn, tiêu xài của họ ít đi.
Đối với người dân Okinawa, sự hiện diện lính Mỹ tại đây đã kéo dài quá lâu và gây phiền hà cho họ. Để hiểu nỗi bực dọc người dân, tác giả bài báo đã trèo lên nóc một toà nhà ở Ginowan, nơi có một căn cứ Mỹ thiết lập từ năm 1945, trên 500 hécta đất lấy của dân, căn cứ Futenma. Theo bài báo cứ từ mồng một tháng 7 đến 15 tháng giêng, khi có đến 300 máy bay trực thăng lên xuống mỗi ngày. Tóm lại, các căn cứ Mỹ không còn mang lại gì nhiều về thu nhập cho Okinawa, chỉ chiếm 5% doanh thu của tỉnh bị xem là nghèo nhất của Nhật, trong lúc mà như lời của thị trưởng Ginowan than phiền về tiếng ồn ào không thể chịu nổi đối với người dân. Dân Okinawa cũng không mấy thích số 6 triệu du khách đến đây hàng năm.
Tác giả bài phóng sự nhắc lại là từ năm 1996 đã có những cuộc thương lượng giữa Washington và Tokyo để tìm một giải pháp đối với căn cứ Funtema. Việc đảng Dân chủ Nhật lên nắm quyền, năm ngoái càng làm cho công việc phức tạp hơn, và tầm mức căng thẳng giữa Washington và Tokyo làm cho nhiều chuyên gia lo ngại như phân tích của Robert Dujarric, giám đốc viện nghiên cứu Châu Á của Temple University, Tokyo, về cơ bản, quan hệ hai bên vẫn tốt, nhưng tình hình có thể biến chuyển. Theo ông chính quyền Mỹ bị tình hình Irak và Afghanistan chi phối đã bị hụt hẩng trước thắng lợi của đảng Dân chủ. Phải nói là Mỹ chỉ có quan hệ với người của đảng bảo thủ, nắm quyền suốt hơn nửa thế kỷ. Theo một số nguồn tin thì đại sứ Mỹ tại Tokyo, chưa bao giờ gặp một lãnh đạo đảng Dân chủ, khi đảng thắng cử vào tháng 8 năm ngoái.
Bài báo trích dẫn một nhà ngoại giao, cho là chính quyền của ông Hatoyama cảm thấy họ bị Mỹ hạ nhục. Việc chủ tịch tập đoàn Toyota phải ra điều trần trước Quốc hội Mỹ càng làm không khí nặng nề thêm. Vấn đề hiện nay, như nói trên, lúc còn trong đối lập, Đảng Dân chủ và lãnh đạo đảng chủ trương dời căn cứ Futenma sang đảo Guam. Nhưng hiện nay thì thủ tướng Hatoyama và chính phủ của ông không biết phải đi đường nào, trong lúc mà một số đảng nhỏ trong liên minh của ông lại gây sức ép để dời căn cứ, và tăng cường khả năng của quân đội Nhật. Phiá Mỹ thì bộ Quốc phòng hiện nay đang xem xét lại chiến lược Mỹ. Binh chủng thủy quân lục chiến thì muốn giữ nguyên vị trí.
Thật ra theo tác giả bài báo, vấn đề đặt ra hiện nay đi xa hơn là chỗ đóng quân một hay vài căn cứ Mỹ tại ỡ Okinawa. Vì nếu quân đội Mỹ rút đi, cho dù là một phần thì dứt khoác sẽ làm dáy lên trở lại cuộc tranh luận tại Nhật về việc có nên hay không nên tăng cường khả năng quân sự của Nhật. Bài báo kết luận, cánh tả Nhật Bản vì muốn một thế đứng độc lập hơn nữa của đất nước họ đối với Mỹ, đã vô hình chung trở thành đồng minh bất đắc dĩ của cánh dân tộc chủ nghiã, vốn chủ trương tái vũ trang nước Nhật. Tình hình đày hứa hẹn như thế đấy / hệ quả thấy trước đãy.
Từ khi Castro lên nắm quyền, có gần 2 triệu người đã rời Cuba
Tạp chí Le Monde tuần này, nhớ lại sự kiện đã xẩy ra cách đây đúng 30 năm tại Cuba, mà tạp chí gọi là "cuộc tháo chạy lớn". Ngày mồng 4 tháng 4năm 1980, dưới sức ép, chính quyền La Havana đã cho phép người dân ra đi. Những người muốn rời khỏi đảo, tập trung và rời xứ ở cảng Mariel. Những người đồng hương ở hải ngoại đến đón họ. Trong vòng 5 tháng, theo tạp chí Le Monde có đến 125.000 người chạy đến Hoa Kỳ, trên 3.000 chiếc tàu.
Theo bài báo từ khi cuộc cách mạng của Fidel Castro thành công, có rất nhiều đợt người di tản khỏi Cuba, nhưng chưa có đợt nào ngoạn mục như đợt vào mùa xuân đến mùa hè năm 1980. Sự kiện khởi đầu đợt di tản diễn ra trước đó đúng một tuần lễ: vào ngày 28 tháng 3, một nhóm người Cuba, trên một chiéc xe buýt đã tông rào đại sứ quán Peru để xin tỵ nạn. Họ đã làm cho một nhân viên an ninh Cuba thiệt mạng.
Hành động này đã gây căng thẳng giữa Cuba và Peru, vì Peru từ chối , không giao nộp nhóm người nói trên cho chính quyền La Habana. Thế là chính quyền Cuba quyết định không bảo vệ đại sứ quán Peru nữa, rút về cảnh sát canh giữ trước cổng và tuyên bố vào ngày mùng 4 tháng 4, ai muốn rời khỏi Cuba cứ việc đến Đại sứ quán Peru. Nội trong 2 ngày, có đến 10.000 đổ xô đến đại sứ quán, chẳng mấy chốc gây ra tình hình hỗn loạn tại nơi này. Hai tuần sau đó, ngày 20 tháng 4, chính quyền Cuba lại thông báo, những nguời muốn ra đi hãy đến tập trung ở cảng Mariel để đi. Những người Cuba ở nước ngoài được mời đến đón người thân ở đãy. Ngay ngày hôm sau bắt đầu sự kiện gọi là "đội thuyền của tự do". Những người Cuba lưu vong ở Hoa Kỳ, thuê tàu đến đón thân nhân ở cảng Mariel và đưa họ đến Key West, cảng tiểu bang Florida, và gần Cuba nhất.
Chính quyền Cuba đã giải thích việc cho phép bất đắc dĩ và cũng mang tính chất ngẫu hứng này như một chủ trương của đảng theo lý thuyết, như ông Fidel Castro dõng dạc tuyên bố nhân ngày Lễ lao động mùng một tháng 5: "những người không có gen cách mạng, không có máu cách mạng, thì chúng ta không muốn giữ họ, chúng ta không cần đến họ".
Được Cuba cho phép, người ra đi cũng được phía Mỹ khuyến khích với tuyên bố của tổng thống Jimmy Carter cho rằng Hoa Kỷ sẽ tiếp tục rộng mở cánh tay tiếp đón những người đi tìm tự do. Nhưng đợt ra đi ở cảng Mariel kết thúc như khi bắt đầu: đột xuất, ngẫu hứng. Ngày 24 tháng 9, lãnh đạo Cuba thông báo ngưng, không cho đi nữa và yêu cầu các tàu được thuê bao đến rước người di tản quay trở về Mỹ. Theo ước tính một số chuyên gia, từ lúc Fidel Castro lên nắm quyền năm 1959 đến năm nay 2010, thì có từ một triệu rưỡi đến hai triệu người chạy đi, theo một đánh giá khác thì người đi có thể hơn 2 triệu, tức khoảng 1/4 hay 1/5 dân số Cuba (6 triệu năm 1959, 11 triệu năm 2010).
Mai Vân (RFI)