Triển lãm Toàn cầu Thượng Hải (Reuters)
Thông tín viên của Le Monde tại Thượng Hải nhận xét, đây là một thử thách lớn lao đối với Trung Quốc, và có ảnh hưởng gián tiếp đến toàn cầu. Tỉ lệ đô thị hóa tại nước này là 48% trong năm nay, nhưng đến năm 2030 sẽ lên đến 68%. Một tỉ người Trung Quốc sẽ là dân thành thị, trong khi hiện nay chỉ là 600 triệu – một con số chóng mặt nếu chúng ta biết rằng vào năm 1953 số dân cư đô thị ở đây chỉ có 77 triệu người.
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 11%, một loạt vấn đề đã được đặt ra cho người khổng lồ châu Á. Từ việc sử dụng nguồn lợi tự nhiên, kết nối các khu công nghiệp và vùng đô thị, sự thay hình đổi dạng của các thành phố và sức sống về mặt kinh tế của nó, cho đến các luồng người nhập cư và phương tiện vận chuyển. Thế mà hiện nay các nhà quy hoạch và quản lý Trung Quốc đang bị thúc đẩy bởi hai động lực hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Nếu các nhà lãnh đạo Bắc Kinh muốn hướng theo phát triển bền vững, thì chính quyền nhiều địa phương do lợi ích cục bộ, đã làm ngơ trước việc xây dựng bừa bãi.
Quy hoạch bề bộn, xây dựng bừa bãi
Về khuynh hướng thứ nhất, tác giả bài báo cho biết các thành phố sinh thái đang mọc lên ở nhiều nơi. Một loạt những quy định và các biện pháp khuyến khích sử dụng năng lượng tái sinh, với nguồn tài trợ dồi dào của chính phủ đã cho phép nâng cấp cơ sở hạ tầng đô thị, đặc biệt là trong lãnh vực xử lý nước thải và rác. Các chuyên gia phương Tây được nồng nhiệt đón tiếp, và đôi khi việc này cho phép Bắc Kinh có được những kỹ thuật tiên tiến nhất. Các công ty chuyên cung ứng giải pháp sinh thái đổ xô vào thị trường to lớn này, và một doanh nhân Pháp đã nhận xét: « Người Trung Quốc ý thức rằng tăng trưởng có thể bị ngừng lại nếu họ không làm gì cả ».
Ngược lại, xu hướng thứ hai là đồng lõa với việc đô thị hóa một cách lộn xộn. Làn sóng người lao động nhập cư đặc biệt là tại Quảng Đông đã tạo nên những đô thị mang tính tạm bợ, xây dựng ẩu mà lẽ ra đã phải phá đi để xây lại. Các chính quyền địa phương cạnh tranh lẫn nhau để kéo nhà đầu tư về cho mình nhằm thu lợi qua việc bán đất, cho dù dự án có qua loa thế nào đi nữa. Kế hoạch kích thích tăng trưởng quy mô của trung ương đã dẫn đến việc xây dựng một loạt các cơ sở hạ tầng quá lớn so với nhu cầu thực sự. Một kiến trúc sư tại Thượng Hải cho biết: « Không có các công trình nhà ở sinh thái, vì các nhà đầu tư địa ốc không thích thế, cho dù nhiều khi chi phí chỉ bị đội lên có 5% mà thôi ». Các quy định về xây dựng bị lơ là, trong khi các công trường đua nhau mọc lên như nấm.
Một nhà nghiên cứu về nhân loại học thuộc trường đại học Bắc Kinh đưa ra ví dụ tại thành phố thủ phủ của tỉnh Vân Nam: trong kế hoạch năm 2010 của Ủy ban Quy hoạch Đô thị, các tòa nhà cao không quá 40 tầng không cần phải qua khâu xét duyệt. Có nghĩa là một rừng cao ốc sẽ mọc lên. Bà so sánh các đô thị như những con khủng long thời tiền sử, phát triển quá mức để rồi trở thành nạn nhân của kích thước ngoại cỡ của chính mình.
Một trường hợp khác cũng được đề cập đến, đó là Ordos, thành phố nằm ở trung tâm vùng Nội Mông. Theo dự trù nơi đây sẽ là một thành phố hàng không như Seatle, nơi đặt cơ sở những công ty cung ứng trang thiết bị cho loại máy bay C919 trong tương lai; với nhà cửa được lắp các tấm cách nhiệt, thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời…Dân số đã được ấn định trước : 300 ngàn dân, trong đó có 10 ngàn người Mông Cổ du mục được định cư, 30 ngàn công nhân, số còn lại là dân các thành phố khác đến. Nhưng bảy năm sau khi đặt viên đá đầu tiên và hai tỉ euro đầu tư, nơi đây vẫn còn là một thành phố ma. Liệu đây có phải là một thất bại được báo trước hay không ? Chính quyền địa phương cho rằng hãy còn quá sớm để trả lời.
Ấn Độ: Luật phổ cập giáo dục cho trẻ em rồi sẽ chỉ nằm trên giấy?
Nhật báo Le Figaro nhìn sang Ấn Độ, một quốc gia đông dân khác của châu Á, nơi quốc hội vừa thông qua luật phổ cập giáo dục cho trẻ em từ 6 đến 14 tuổi. Thông tín viên của tờ báo tại New Dehli nhận định, đây là một bộ luật mang tính lịch sử, nhưng lại rất khó áp dụng trong thực tế khi có đến 12 triệu trẻ em đang phải lao động kiếm sống.
Kể từ ngày 1 tháng tư, quyền được đến trường đã trở thành một quyền căn bản của trẻ em Ấn. Đạo luật mới buộc phải cho tất cả trẻ em trong lứa tuổi trên đều được đi học, và việc học hành là miễn phí. Chính phủ cho rằng có ít nhất 10 triệu trẻ em chưa bao giờ được đến lớp, nhưng theo một tổ chức phi chính phủ, thì trên thực tế con số này lên đến từ 70 tới 80 triệu. Ước lượng này dựa trên cơ sở con số lao động trẻ em dưới 14 tuổi, chính thức là 12,6 triệu; nhưng thực ra cao hơn rất nhiều. Và thường thì chính phụ huynh các em không muốn cho đi học kể cả khi được miễn học phí, vì sợ mất đi một nguồn thu nhập của gia đình, tuy số tiền các em kiếm được chẳng đáng là bao.
Thủ tướng Manmohan Singh tâm sự: « Tôi đã từng phải học bài dưới ánh đèn dầu leo lét. Tôi trở thành tôi ngày hôm nay là nhờ giáo dục, vì thế mà tôi mong muốn ánh sáng học vấn đến được với tất cả trẻ em trên cả nước ». Chi phí của dự án ước tính khoảng 3 tỉ euro trong vòng 5 năm, trong đó nhà nước trung ương gánh 55% và chính quyền các bang chịu 45%. Nhiều bang đã thông báo là không có khả năng trang trải cho tham vọng trên. Đặc biệt là bà Mayawati, người đứng đầu Uttar Pradesh, bang rộng lớn nhất, đông dân nhất và là một trong những bang nghèo nhất của Liên hiệp Ấn. Xuất thân từ tầng lớp thấp kém, bà muốn là phát ngôn viên của những người nghèo khổ nhất, nhưng lại muốn một mình gánh trọn những vinh quang thay vì dành tiền xây các lớp học.
Luật mới cũng đảm bảo một nền giáo dục có chất lượng cho tất cả mọi học sinh. Nhưng hiện nay chất lượng các trường công thường thấp, với tỉ lệ giáo viên vắng mặt kỷ lục ; trong khi trường tư học phí rất cao, học sinh con nhà giàu và chọn lọc. Bộ luật buộc các trường tư phải dành 25% số chỗ cho trẻ em nhà nghèo, hứa hẹn sẽ bù lỗ cho nhà trường, nhưng chắc chắn là không thấm vào đâu so với mức học phí các trường này đang thu.
Ngay cả khi các trẻ em nghèo được đến lớp với con nhà giàu, liệu các em có thể hội nhập được hay không ? Một nhà phân tích nhận xét: « Hãy tưởng tượng một công tử con một chủ doanh nghiệp phải ngồi cùng băng ghế với một em thuộc tầng lớp khốn cùng nhất của xã hội, liệu cả hai em có thấy thoải mái không ? Và các bậc phụ huynh nhà giàu có thể ngưng cho con mình đi học tại các trường này ». Chưa kể chính cha mẹ các em nghèo cũng mù chữ, không giúp gì được cho con mình. Thậm chí đối với các giáo viên những trường tư sang trọng, biết đọc biết viết chưa đủ, phụ huynh ở nhà còn phải biết nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh nữa!
Tệ hại hơn, nhiều người bi quan cho rằng luật phổ cập giáo dục mới sẽ lại giống như vô số đạo luật khác, vẫn chỉ nằm trên giấy; như đạo luật cấm sử dụng lao động trẻ em ra đời cách đây 4 năm. Người phụ trách Phong trào Bảo vệ Trẻ em bình luận: « Một khi tình trạng sử dụng lao động trẻ em vẫn đang hiện diện trên đất nước này, làm thế nào có thể cưỡng bách giáo dục được ? »
Vì sao Séoul thận trọng không lên án Bình Nhưỡng?
Cũng tại châu Á, bình luận về phản ứng của chính quyền Séoul sau vụ tàu Cheonan bị chìm một cách bí ẩn làm 46 thủy thủ tử nạn, nhật báo La Croix nhận xét, trước hết điều này cho thấy hệ thống phòng vệ của Hàn Quốc có vấn đề, nếu thực sự là do tàu ngầm Bắc Triều Tiên tấn công. Khả năng trả đũa của Séoul là hạn chế, vì Hàn Quốc muốn tránh việc leo thang quân sự bằng mọi giá, khiến các nhà đầu tư e ngại.
Trong trường hợp có bằng chứng xác thực là có bàn tay của Bình Nhưỡng, Séoul sẽ kiện lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và tăng cường trừng phạt kinh tế. Nhưng như thế Bình Nhưỡng sẽ bị cô lập, trong khi đang gặp khó khăn do vấn đề nhà lãnh đạo thừa kế, và thất bại trong vụ đổi tiền. Hàn Quốc và các nước láng giềng vẫn bị ám ảnh bởi nỗi lo ngại chế độ Bắc Triều Tiên – có vũ khí nguyên tử - bất thần sụp đổ. Tổng thống Lee Myung-bak vốn có chủ trương cứng rắn với Bình Nhưỡng khi tranh cử trước đây, đã tỏ ra thận trọng khi không chính thức lên án Bắc Triều Tiên, lại vừa dành cho các thủy thủ hy sinh các nghi lễ trân trọng đối với các chiến sĩ bỏ mình trên trận địa.
Nhiều câu hỏi được đặt ra về các khiếm khuyết về kỹ thuật cũng như của Hải quân Hàn Quốc. Một nhà nghiên cứu nhận xét: « Quân đội Hàn Quốc vẫn thích phóng đại khả năng tấn công của Bình Nhưỡng, nhằm trút bỏ trách nhiệm của mình ». Còn Hoa Kỳ vẫn quan sát cẩn thận tình trạng dễ phát hỏa này. Ngoại trưởng Hillary Clinton đã bày tỏ nỗi lo ngại « một hành động hay một sai lầm » nào đó gây nên một cuộc xung đột vũ trang. Cần nói thêm, từ khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt vào năm 1953, chưa có hiệp ước hòa bình nào được ký kết, và trên lý thuyết thì hai nước Triều Tiên vẫn đang trong tình trạng chiến tranh.
Thụy Mi (RFI)