
Bà Giang Kiện Mai, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Trung Quốc. DR
Thảm họa thủy triều đen tại Louisiana là hồ sơ chính được tuần báo Courrier International quan tâm hàng đầu.
Sau vụ nổ giàn khoan Deepwater Horizon ngày 20 tháng tư ở ngoài khơi Louisiana, nước Mỹ đang phải đối phó với nạn thủy triều đen nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước này, cho dù còn quá sớm để đánh giá tác hại của thảm họa trên. Theo Courrier International, sự kiện này lay động ý thức về môi trường của công luận Mỹ thế nhưng không làm chính quyền Washington từ bỏ chính sách khai thác dầu khí ở ngoài khơi mà Hoa Kỳ hiện nay đang rất cần.
Trong khi đó, L’Express chú ý tới « vụ việc làm cho tổng thống lo ngại ». Đó là vụ nước Pháp ký hợp đồng đóng tàu chiến cho Pakistan trong những năm 90 của thế kỷ trước. Câu hỏi lớn nhất được đặt ra hiện nay là phải chăng trong vụ này, cái gọi là tiền hoa hồng chi cho phía Pakistan lại được dùng để tài trợ chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của ông Edouard Balladur, năm 1995.
Trong vụ này, dường như việc Pháp không chịu chi hoa hồng cho phía Pakistan như đã hứa là nguyên nhân gây ra vụ khủng bố ở Karachi ngày 8 tháng 5 năm 2002, làm 15 người thiệt mạng, trong đó có 11 chuyên gia Pháp.
Điều gây lo ngại cho tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy lo ngại trong vụ này là vào thời kỳ đó, ông Sarkozy giữ chức bộ trưởng ngân sách và phụ trách chiến dịch vận động tranh cử của ông Balladur.
Trang bìa của Le Nouvel Observateur tuần này đề cập đến chế độ ăn uống chống ung thư, giới thiệu cuốn sách của chuyên gia nghiên cứu ung thư David Khayat, sẽ ra mắt độc giả vào tuần tới.
Bắc Kinh bất ngờ tiến hành đợt đàn áp mới nhắm vào các tổ chức phi chính phủ
Tờ Le Courrier International tuần này nói về đợt đàn áp mới của chính quyền Bắc Kinh nhắm vào các tổ chức phi chính phủ, với tựa đề “Tiền thân của các tổ chức phi chính phủ vì phụ nữ bị giải thể”. Việc Trung Quốc đàn áp các tổ chức thuộc xã hội dân sự là chuyện thường xuyên diễn ra. Điều đặc biệt là, trong đợt đàn áp mới đây, chính quyền Bắc Kinh đã đánh thẳng vào một trong các tổ chức phi chính phủ đầu tiên tại nước này, bất chấp đây là một cơ sở nghiên cứu và dịch vụ xã hội rất có uy tín thuộc trường Đại học Bắc Kinh.
Ngày 27 tháng 3 là ngày bà Quách Kiện Mai tròn 50 tuổi. Chồng bà tổ chức một buổi sinh nhật, nhưng bà không có tâm trạng nào vui vẻ, bởi một người bạn vừa gọi điện cho bà để báo rằng trường Đại học Bắc Đại (Bắc Kinh) đã ra quyết định giải thể Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Trung Quốc, thuộc Viện Nghiên cứu pháp lý, do bà lãnh đạo từ mười lăm năm nay.
Bà Quách Kiện Mai là người đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực pháp luật tại Trung Quốc, mà không nhận tiền công. Là người có nhiều kinh nghiệm trong nghề và vị thế trong ngành, đáng ra bà đã có thể kiếm được nhiều tiền trong lĩnh vực này, tuy nhiên, năm 1996, bà Quách Kiện Mai đã quyết định bỏ một việc làm ổn định, để trở thành lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ Trung Quốc. Bà cho biết “Vào lúc đó, nhiều người đã cho tôi là không bình thường”.
Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ, được thành lập năm 1995, là tổ chức phi chính phủ đầu tiên tại Trung Quốc nghiên cứu về quyền phụ nữ và đồng thời trợ giúp pháp lý cho họ. Trong 15 năm, trung tâm đã tư vấn miễn phí cho 70 nghìn phụ nữ và đã giúp đưa 3 nghìn hồ sơ ra tòa. Trung tâm đã nhận được nhiều khen ngợi và nhận được nhiều giải thưởng tại Trung Quốc và nước ngoài. Bản thân bà Quách Kiện Mai đã nhận được giải Global Leadership Awards (Hoa Kỳ) năm 2007 và giải Simone de Beauvoir vì tự do phụ nữ (Pháp) năm 2010.
Quyết định giải thể Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ do bà Quách Kiện Mai lãnh đạo cuối tháng 3 vừa qua là hết sức bất ngờ. Bởi vì, chỉ mới năm ngoái thôi, lãnh đạo trường Đại học Bắc Kinh đã khen ngợi trung tâm vì đã đưa lên mạng các dịch vụ hỗ trợ pháp lý miễn phí.
Một lý do mà người ta đưa ra để giải thích cho việc giải thể này là việc trung tâm đã nhận tiền tài trợ của nước ngoài, cụ thể là của Quỹ Ford (Hoa Kỳ). Tuy nhiên, chuyện này đã bắt đầu ngay từ khi trung tâm thành lập, mặt khác, có nhiều tổ chức khác cũng nhận được tài trợ. Giáo sư He Weifang, thuộc viện Nghiên cứu pháp lý của Đại học Bắc Kinh, công khai bác bỏ quan điểm này.
Theo tổ chức Human Rights Watch, việc giải thể Trung tâm nghiên cứu và trợ giúp pháp lý cho phụ nữ mới đây là một đòn đánh mạnh vào quyền phụ nữ và xã hội dân sự tại Trung Quốc, có thể đẩy lùi các tiến bộ mà các tổ chức thuộc xã hội dân sự Trung Quốc trong mươi năm gần đây phải cố gắng lắm mới đạt được. Thiếu một quy chế pháp lý riêng và sống trong một chế độ độc đoán, số phận các tổ chức phi chính phủ nói riêng và xã hội dân sự nói chung tại Trung Quốc hết sức mong manh.
Con thuyền kinh tế châu Âu cần một sức mạnh chính trị cầm lái
Nhìn sang châu Âu, Le Courrier International dành toàn bộ phần hồ sơ cho chủ đề cuộc khủng hoảng của đồng euro. Bài viết của nhà kinh tế Bỉ, Pierre Defraigne, nguyên công chức cao cấp châu Âu, đăng trên tờ La Libre Belgique, được Le Courrier International trích lại, nhận định: Cuộc khủng hoảng kinh tế, bắt đầu với sự sụp đổ của thị trường tài chính Wall Streeet tháng 9/2008, cho đến giờ đang làm lộ rõ những rạn nứt trong lòng khối các nước sử dụng đồng euro.
Khu vực đồng euro không phải là một khu vực tiền tệ gắn bó, và bản thân nó không có các công cụ chính sách kinh tế để khắc phục các bất cập gắn liền với giai đoạn hình thành ban đầu của khối. Một mặt, do mức độ hòa nhập quốc tế khác nhau, mà các thành viên của khối này chịu các cú sốc kinh tế không giống nhau, mặt khác, việc thiếu di chuyển lao động giữa các nước và mức lương thiếu mềm dẻo, làm cho việc điều chỉnh giữa các nền kinh tế trở nên rất khó khăn. Cuối cùng, về chính sách kinh tế, khu vực đồng euro không có một ngân sách liên bang đáng kể, nên không có khả năng kích cầu toàn khối, cũng như không có khả năng thực hiện các thanh khoản bù trừ từ các quốc gia thành viên thịnh vượng sang các quốc gia gặp khó khăn. Chính vì thế, Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu buộc phải vận hành theo kiểu đối phó với từng cuộc khủng hoảng một.
Khối liên minh này được xây dựng dựa trên nguyên tắc một đồng tiền chung cho tất cả, nhưng trên thực tế, mỗi quốc gia thành viên phải đối phó riêng lẻ với các cú sốc từ bên ngoài, hoặc các sai lầm trong chính sách kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế Hy Lạp cho thấy các thị trường tài chính chủ trương đối xử khác nhau với các nước thành viên của khối, tùy theo nguy cơ suy sụp của mỗi nước. Các nước có nguy cơ cao sẽ bị mất khả năng vay tiền với lãi suất thấp, vốn được áp dụng cho toàn khối. Để phản ứng lại cuộc khủng hoảng này, Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu đã quay trở lại biện pháp giảm phát (déflationniste), gắn liền với việc đưa ra các khuyến cáo đạo đức chung chung. Toàn bộ gánh nặng của quá trình điều chỉnh, để đối phó với khủng hoảng, rơi lên lưng những nước nào, vừa bị thâm hụt ngân sách, vừa bị thâm hụt thương mại.
Nhìn chung, theo phân tích của chuyên gia này, chúng ta thấy khu vực sử dụng đồng euro, vì thiếu một điều hành kinh tế chung, nên dần dần bị khép vào trong một tình thế lưỡng nan. Khả năng thứ nhất là khu vực này đối phó với các khủng hoảng liên tục xảy ra tại các khu vực ngoại vi (Địa Trung Hải, Aixơlen, hay các nước Đông Âu), với việc thể hiện tình đoàn kết trên bề mặt, cùng lúc với áp đặt cho các nước đang gặp khó khăn một liệu pháp sốc. Trong trường hợp đó, đồng euro có thể rơi vào trạng thái giảm phát, là nguồn gốc của các bất ổn về kinh tế xã hội. Khả năng thứ hai là một số quốc gia, dưới áp lực của việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, sẽ không có cách nào khác hơn là tìm lại sự độc lập về tiền tệ, thậm chí thiết lập lại đồng tiền quốc gia cũ ở mức độ thấp để lấy lại khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên cái giá phải trả cho việc ra khỏi đồng euro của một nước sẽ đè nặng lên toàn khối.
Tác giả đặt câu hỏi: Vấn đề khủng hoảng của khối sử dụng đồng euro đặt ra là cộng đồng số phận của liên minh các nước châu Âu, điều cho phép khối này khẳng định một vị trí trong thế giới hiện nay. Tác giả kết luận, để tăng trưởng kinh tế của châu Âu trở lại, cần tăng cường châu Âu trên phương diện chính trị. Con đường đi đến một sức mạnh chính trị của châu Âu có lẽ trước hết phải đi qua cuộc khủng hoảng toàn diện của khu vực đồng euro.
Phải chăng Mỹ đang muốn tư nhân hóa chiến tranh?
Tạp chí Le Nouvel Observateur tuần này có bài điều tra về nghề đánh thuê, nói về vai trò, sự hoành hành của đội quân đánh thuê Blackwater tại Afghanistan, Irak và chính sách sử dụng đạo quân này của Washington.
![]() |
| Nhân viên của Công ty Blackwater tiếp tục có mặt tại Iraq và Afghanistan. |
Theo tạp chí Le Nouvel Observateur, lính đánh thuê của công ty Blackwater là quân đội tư nhân lớn nhất thế giới và là lực lượng nòng cốt trong bộ máy chiến tranh dưới thời chính quyền Georges Bush.Giống như trong phim ảnh Hollywood, đó là những nhân viên to khỏe, cơ bắp nổi cuộn, đầu đội mũ sắt, đeo kính đen, trang bị súng M4 có thể nhả 900 viên đạn trong một phút, bên hông đeo dao găm, đi lại ngông nghênh… Tất cả là nhân viên của công ty Blackwater do Erick Prince, một tỷ phú trẻ lập ra.
Vai trò của Blackwater trở nên thiết yếu sau loạt khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 và nhất là khi Mỹ tiến hành chiến tranh ở Afghanistan, Irak, v.v. Trên chiến trường, lực lượng đánh thuê này đứng trên pháp luật, tỏ thái độ miệt thị đối với các binh sĩ thuộc quân đội chính quy Hoa Kỳ. Một nhân viên của Blackwater tại Irak nói với phóng viên của Le Nouvel Observateur là không ai có thể đụng chạm đến họ. Vào năm 2004, liên quân Mỹ còn ra chỉ thị là những nhân viên ký hợp đồng, tức lính đánh thuê Blackwater, được miễn trừ mọi truy tố tư pháp của nhà nước Irak. Tất nhiên, văn bản này đã bị hủy bỏ. Một số nhân viên Blackwater đã bị truy tố tại Mỹ nhưng cho đến nay, chưa có một ai trong số này bị kết án vì các hành vi giết người ở Irak hay Afghanistan.
Một trong những vụ lính Blackwater giết thường dân gây chấn động công luận là vụ các cảnh vệ Blackwater nổ súng vào đoàn xe hơi trên quảng trường Nissour ở Bagdad, ngày 16 tháng 9 năm 2007, làm 17 người thiệt mạng và khoảng hai chục người bị thương.
Khi phải ra điều trần trước một ủy ban Quốc hội lưỡng viện Mỹ, chủ nhân công ty Blackwater Erick Prince đã sử dụng lá bài yêu nước, tỏ ra ngạc nhiên là tại sao người ta lại đi chất vấn một người đang làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước, chống lại những kẻ độc ác. Vào thời điểm đó, đảng Dân Chủ, ở phe đối lập, đã muốn làm rùm beng vụ này. Bà Hillary Clinton còn đòi phải có một đạo luật cấm lính đánh thuê Blackwater hiện diện tại Irak.
Thế nhưng, hai năm rưỡi sau, khi lên cầm quyền, đảng Dân Chủ tỏ ra ít quan tâm đến vấn đề Blackwater. Thậm chí, chính lực lượng Blackwater nhiều lầm làm nhiệm vụ bảo vệ khi ngoại trưởng Hillary Clinton công du Irak. Còn tại Mỹ, thì một thẩm phán nêu ra những thiếu sót về thủ tụng tố tụng hình sự, cho phép bác bỏ mọi cáo buộc nhắm vào lực lượng đánh thuê Blackwater trong vụ giết hai thường dân ở Nissour, Bagdad. Hiện nay, sứ quán Mỹ tại Irak, Afghanistan do binh sĩ của Blackwater bảo vệ.
Trong thời gian từ 2001 đến 2009, công ty Blackwater đã giành được các hợp đồng trị giá 1,5 tỉ đô la trong đó có hơn một nửa số hợp đồng không thông qua đấu thầu. Một nghị sĩ Mỹ nhận định, Blackwater có một đội quân đủ khả năng lật đổ đa số các chính phủ trên thế giới. Công ty có khối lượng dự trữ rất lớn về vũ khí hạng nặng, một phi đội máy bay, trực thăng Blackhawk, tàu chiến, xe bọc thép, thao trường, và các căn cứ có thể huấn luyện được khoảng 300 ngàn cảnh sát, binh sĩ mỗi năm.
Theo điều tra của Le Nouvel Observateur, thì sức mạnh của Blackwater nhờ vào mối liên hệ giữa gia đình ông Erick Prince và phe cánh tôn giáo cực đoan trong đảng Cộng Hòa. Erick Prince sinh năm 1969 ở Michigan, trong một gia đình giàu có, đầy thế lực chuyên sản xuất các thiết bị xe hơi, có nhiều đóng góp tài chính cho phe tôn giáo cực đoan cánh hữu. Năm 1992, Erick Prince tham gia lực lượng Marines, từng có mặt tại Haiti, Trung Đông và Serbia. Khi người cha chết, Erick Prince ra khỏi quân đội và quản lý một sản nghiệp vài trăm triệu đô la. Nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu của quân đội Mỹ, ông cho thành lập các căn cứ huấn luyện tư nhân.
Năm 1997, Erick Prince lập ra Blackwater trong bối cảnh bộ Quốc phòng Mỹ muốn giao cho các công ty tư nhân thực hiện một số nhiệm vụ của quân đội.
Le Nouvel Observateur đặt câu hỏi : Phải chăng xu hướng tư nhân hóa chiến tranh là không thể đảo ngược được ? Quân đội Mỹ, mệt mỏi với hai cuộc chiến tranh, đang ngày càng ủy thác nhiều công việc cho khu vực tư nhân. Tại Irak, hiện nay, lính đánh thuê tư nhân gần bằng số binh sĩ trong lực lượng chính quy Mỹ. Còn ở Afghanistan, có 104 ngàn lính đánh thuê trong khi số binh sĩ Mỹ chỉ là 68 ngàn. Cuối năm nay, tại chiến trường này, sẽ có 130 ngàn lính đánh thuê tư nhân và 120 ngàn binh sĩ Mỹ. Điều đáng ngại hơn cả là CIA cũng nhờ đến dịch vụ khu vực tư nhân. Le Nouvel Observateur nêu ra con số : 50% nhân viên hoạt động bí mật của CIA là thuộc khu vực tư nhân.
Theo ông Michael Ratner, chủ tịch Trung tâm các quyền Hiến định thì việc sử dụng ngày càng nhiều các lính đánh thuê theo hợp đồng tạo thuận lợi cho việc tiến hành chiến tranh. Bởi vì họ chỉ cần tiền mà không cần sự chấp thuận của công dân.
Vua Henri IV, huyền thoại của nước Pháp
Tạp chí Le Figaro tuần này đưa trên trang bìa hình ảnh vua Henri IV (1553-1610), với hàng tựa “Henri IV, một huyền thoại Pháp. Bốn thế kỷ từ khi qua đời, ông vẫn là vị vua được người Pháp yêu thích nhất”. Theo nhà văn Jean Sévillia, nước Pháp năm nay kỷ niệm 400 năm ngày mất của vua Henri IV. Nhân vật lịch sử này vừa là thủ lĩnh quân sự, vừa là người gầy dựng nền hòa bình tại Pháp. Đây là một vị vua rất sùng đạo, nhưng cùng là người mê phụ nữ. Xuất thân quí tộc, nhưng mang tâm hồn thôn dã. Vua Henri IV là một con người có nhiều khuôn mặt, và theo nhà văn Sévillia, nếu như ông vua này là người được yêu mến nhất trong các vua, chính bởi vì rất nhiều người Pháp nhìn thấy mình trong nhân vật này.
Ngày 14 tháng 5 năm 1610, cách đây bốn trăm năm, Henri IV bị Ravaillac, một nhân vật vô danh, sát hại ngay giữa Paris. Đây là một vụ ám sát đầy bí ẩn, mà cho đến giờ chưa ai giải thích được nguyên cớ.
Được rửa tội theo Công giáo, rồi được hưởng nền giáo dục theo đạo Tin Lành của mẹ, Henri de Navarre (tên hiệu của ông trước khi trở thành vua Pháp), được cha hướng dẫn trở thành tín đồ Công giáo. Sau đó, ông cải đạo theo Tin Lành, với ảnh hưởng của mẹ. Trong cuộc chiến giữa các nhóm tôn giáo khác nhau, ông trở thành người lãnh đạo của cánh Tin Lành. Tuy nhiên, năm 1593, ông bỏ đạo Tin Lành trở thành người Công giáo để có đủ tư cách trở thành vua nước Pháp, mà đa số theo Công giáo. Hành trình của Henri IV thật kỳ lạ. Những người Tin Lành cực đoan và những người Công giáo cực đoan đều nghi ngờ sự thành thật của ông. Nhưng cuối cùng Henri de Navarre đã trở thành vua Henri IV. Và trong thời kỳ ông nắm quyền, một hiệp ước hòa bình tôn giáo quan trọng đã được ký kết (édite de Nantes) (1598). Tổ chức được sự chung sống hòa bình giữa hai tôn giáo, hành động chính trị quan trọng này đã tạo nên một cộng đồng mà về sau chúng ta gọi là dân tộc, một cộng đồng vượt lên trên các thành phần tôn giáo tín ngưỡng.
Nhà văn Sévillia kết luận: hoạt động chính trị của Henri IV đã chấm dứt nội chiến và các xung đột tôn giáo một mất một còn, mở ra việc xây dựng một nhà nước hiện đại. Ông cho rằng, dân tộc vượt lên trên các phe phái, đó là một ý tưởng cho đến nay vẫn còn là sản phẩm rất đặc thù của xã hội Pháp.
Trọng Thành (RFI)
