
Bản đồ các dân tộc vùng Kavkaz. Theo fr.wikipedia.org
Để nói lên sự mâu thuẫn cao độ giữa phong cách sống của những người mới nhập cư và nếp sống vốn có tại thủ đô nước Nga, bài báo mở đầu với việc mô tả một tối vui của những người đến từ Kavkaz tại khu phố thuộc vùng ven Mátxcơva. Lúc này đã hai giờ sáng, những cư dân ở đây vẫn còn phải chịu đựng tiếng ồn của điệu nhảy lezghinka, điệu múa dân gian của dân Kavkaz. Nhưng điều kinh hoàng hơn, diễn ra vào lúc bốn giờ sáng, khi âm nhạc nổi lên vang dậy, cùng với những tràng súng bắn lên không trung. Đây cũng là một tập quán truyền thống người Kavkaz dùng để khuấy động không khí lễ hội. Các cư dân tại đây buộc phải gọi cảnh sát, nhưng không ai tới cả, vì họ cho rằng giờ làm việc đã hết. Cuối cùng, mệt mỏi đám hội cũng tàn, những người tham gia thu dọn súng ống và ra về.
Trong bài trả lời phỏng vấn tờ báo của chính phủ Nga Rossiiskaya Gazeta, ông Mikhail Solomentsev, chủ tịch Ủy ban các quan hệ liên khu vực và chính sách sắc tộc của tòa thị chính Mátxcơva nhắc lại là thủ đô nước Nga chuẩn bị từ lâu nay việc đưa ra bộ Quy chế nếp sống dành cho các cư dân của thành phố này. Bộ Quy chế này sẽ tập hợp lại các quy tắc sống, vốn được coi là hiển nhiên. Cuộc phỏng vấn này đã kích thích trở lại cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ việc cho ra một bộ quy tắc ứng xử để có thể chấm dứt các vụ bắn súng trong các cuộc hội đêm như trên, với những người phản đối, vì cho rằng bộ quy tắc này xâm phạm vào quyền của những người thiểu số.
Ông Michail Solomentsev cho biết thêm, bộ quy tắc này sẽ được đưa ra vào cuối năm để các cộng đồng và giới chuyên gia bình luận, nhưng lại không nói rõ đây có phải là một bộ luật xử phạt hành chính hay không. Các tác giả của bộ Quy chế này thì cho rằng, đây chỉ là một cuốn số tay hướng dẫn những người mới nhập cư về những điều nên và không nên làm tại thành phố này.
Theo chủ tịch Ủy ban các quan hệ liên khu vực và chính sách sắc tộc, các nếp sống cần trừ bỏ là cắt tiết cừu trong sân các khu nhà ở, nướng thịt trên ban công hay đi ra ngoài đường trong các trang phục sắc tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ông chủ tịch cho rằng cần nói tiếng Nga tại nơi công cộng, và thậm chí còn khuyến khích thu hẹp việc giảng dạy tiếng các dân tộc khác, ngoài Nga.
Các nội dung trong dự thảo Quy chế kể trên gặp phải sự phản đối quyết liệt. Nhiều người sợ rằng nếu Mátxcơva thông qua quy chế này, các thành phố khác cũng sẽ làm tương tự.
Tác giả bài báo nhận xét. Nếu như ông chủ tịch Ủy ban các quan hệ liên khu vực và chính sách sắc tộc chỉ dừng ở chỗ đưa ra một tài liệu mang tính hướng dẫn và không chứa các quy định xử phạt, thì biện pháp này không đến nỗi bất công. Tình hình hiện nay là dù người Nga chiếm tới gần 85% dân số (theo thống kê 2002), nhưng tỷ lệ các sắc tộc khác đang không ngừng tăng lên. Theo một số dự đoán, từ đây cho đến năm 2050, dân tộc Nga có thể trở thành thiểu số tại chính nước này. Như vậy, việc có chính sách để những người mới nhập cư làm quen với phong cách sống tại Mátxcơva, cũng như dân cư ở đây làm quen với văn hóa của những người mới nhập cư là cần thiết trong thành phố đa dân tộc này.
Đây là một thực tế mà nhiều thành phố Tây Âu đã đối mặt từ lâu. Vấn đề là cần phải nhấn mạnh đến những giá trị có thể đoàn kết lại mọi người với nhau, chứ không phải là những cái gây ra chia rẽ. Như vậy, các biện pháp bổ sung mà dự thảo Quy chế nếp sống đưa ra là vô ích, vì trên thực tế, để xử lý các vi phạm nhẹ, đã có luật xử phạt hành chính, để xử lý các trường hợp nặng hơn, đã có luật hình sự. Tuy nhiên vấn đề là các biện pháp này đã không được áp dụng. Cụ thể là những người thực thi công vụ thường ngại dính vào chuyện này, nếu như không phải là đôi khi chính họ cũng tham gia vào các cuộc hội hè kiểu này.
Theo tác giả, các cư dân trong khu vực bị cuộc vũ hội ban đêm kể trên làm ảnh hưởng không tin rằng cảnh sát sẽ can thiệp trả lại yên tĩnh cho họ, nếu các cuộc hội hè như thế xảy ra. Ngay tại gần nơi họ ở, một trụ sở đại diện cho chính phủ Tchetchenia, một nước cộng hòa thuộc vùng Kavkaz, tại Mátxcơva sắp sửa hoàn thành.
Ai là người quyết định số phận của đường sắt tại Lào và Việt Nam?
Về Đông Nam Á, « Courrier International » dành hai bài cho đường sắt tại Lào và Việt Nam. Bài viết của nhà nghiên cứu Úc Simon Creak, cho biết tại Lào hiện nay đang có dự án xây dựng đường sắt do Trung Quốc khởi xướng, nhưng dường như chủ trương này không được hưởng ứng. Đây là một kế hoạch được đưa ra một thế kỷ sau những cố gắng không thành công của Pháp trong việc xây dựng đường sắt tại Lào, cho phép nước này nối liền với các quốc gia láng giềng. Dự án này cho thấy sức mạnh đang lên của Trung Quốc.
Tuy nhiên, vấn đề dùng vốn nước ngoài để đầu tư vào các công trình trong nước gây ra những thách thức về chủ quyền đối với quốc gia tí hon này. Về cơ bản, lãnh đạo cộng sản Lào đã quen với việc sử dụng các trợ giúp từ nước ngoài. Bản thân nền kinh tế Lào cũng trở nên thịnh vượng với sự giúp đỡ của Trung Quốc. Tuy nhiên, tác giả cũng đặt ra câu hỏi, chiến lược phát triển mang tính dựa dẫm này sẽ đi tới đâu. Thực tế là việc xây dựng « thành phố Trung Quốc » xung quanh That Luong, vùng ngoại vi của thủ đô Viên Chăn, đã gây ra nhiều phản đối. Dự án đường sắt hiện nay, cũng giống như nhiều dự án do Trung Quốc đầu tư khác, làm nổi lên đặc điểm của mô hình phát triển hậu-cộng sản tại Lào : việc Lào tăng cường hội nhập vào khu vực bằng đầu tư của các nước khác trong khu vực, trước hết là Trung Quốc. Tuy nhiên, tác giả đặt câu hỏi, liệu mô hình này có chắc chắn là bền vững, và đưa ra so sánh với việc nước Pháp trước kia cũng đã từng được chào đón nồng nhiệt với kế hoạch đường sắt không thành công của họ.
Về đường sắt tại Việt Nam, theo nhà nghiên cứu Singapore David Kohn, viết cho tờ The Straits Times, bất chấp việc Quốc hội Việt Nam ngày 19/6 bác bỏ dự án của chính phủ xây dựng đường sắt cao tốc, bị coi là quá tốn kém. Tác giả nhận định, mặc dù, bác bỏ này được nhiều người quan sát cho là mang tính lịch sử, nhưng trên thực tế, Bộ chính trị đảng Cộng sản vẫn là người cầm cương quyết định. Và cũng phải nói thêm là Quốc hội Việt Nam trong hơn mười năm qua đã từng có những quyết định đi ngược lại với đề xuất của chính phủ.
Lý do của việc bác bỏ, bên cạnh việc chi phí quá tốn kém, các đại biểu Quốc hội Việt Nam cũng lo ngại, nếu họ thông qua dự án này, chính phủ có thể sử dụng một phần hoặc toàn bộ các chi phí cho dự án để tô điểm cho các số thống kê về đầu tư và PIB.
Về đường sắt Việt Nam, theo tác giả, cần phải được coi là ưu tiên hàng đầu, vì đây là yếu tố tạo điều kiện quyết định cho tăng trưởng kinh tế. Vấn đề là Việt Nam không cần một đường sắt cao tốc, mà là một đường sắt đôi có chất lượng cao, cùng với các đường nhựa tốt nối liền đường sắt với các khu công nghiệp.
Trung Quốc có cần cho phép sinh thêm con thứ hai để ngăn chặn đà lão hóa dân số?
Courrier International tuần này cũng đặc biệt chú ý đến cuộc cách mạng về dân số tại Trung Quốc với bài viết của các tác giả Trung Quốc trên tờ Nanfang Zhoumo (Quảng Châu). Cách đây ba mươi năm, ban lãnh đạo của quốc gia hơn tỷ dân này đã quyết định chủ trương thiết chặt tỷ lệ sinh đẻ, với chính sách một con. Trong ba mươi năm chính sách này được thi hành nghiêm ngặt, xã hội Trung Quốc đang ngày càng già hơn. Liệu thực tế này có làm cho chính quyền Bắc Kinh thay đổi chính sách kế hoạch hóa gia đình hiện nay.
Tháng 11 năm nay, Trung Quốc sẽ tiến hành một đợt thống kê dân số mới. Theo một chuyên gia, kết quả của đợt thống kê này sẽ cho phép việc thay đổi hoàn toàn chính sách dân số tại Trung Quốc. Tốc độ già đi nhanh chóng của dân cư Trung Quốc khiến cho ngay cả những người ủng hộ cứng rắn nhất đối với chính sách một con cũng bắt đầu thay đổi ý kiến. Nhiều số liệu dự báo cho thấy năm 2020, tại Trung Quốc sẽ có 228 triệu người già. Sức ép của nạn thất nghiệp tăng mạnh khiến cho việc đảm bảo quyền lợi cho những người cao tuổi trở nên khó khăn hơn.
Các tác giả bài báo dẫn ý kiến của Hou Dongmin, nhà dân số học, thuộc Đại học Nhân dân Bắc Kinh, tình hình tại Trung Quốc cũng tương tự như nhiều nước khác, như Nhật Bản và các nước Tây Âu. Đối với Trung Quốc, đây là một đảo lộn chưa từng có trong lịch sử, không ai có thể dự báo trước được các hậu quả của nó. Vì vậy cần phải nghiên cứu kỹ để đối phó.
Bảo hiểm y tế tại Rwanda trùm lên được 92% dân số
Để kết thúc mục điểm tuần báo hôm 11/7, chúng tôi xin giới thiệu những thành tựu của việc xây dựng chế độ bảo hiểm y tế tại Rwanda. Quốc gia thuộc loại nghèo nhất hành tinh này và đã trải qua thảm họa diệt chủng vào năm 1994, theo tờ New York Times, hiện tại có đến 92% dân số được hưởng bảo hiểm y tế. Đây là một tỷ lệ thậm chí còn cao hơn ở nhiều nước giàu có trên hành tinh này.
Bảo hiểm y tế gần như toàn dân này là kết quả của nỗ lực của Rwanda với sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ của Mỹ. Báo hiểm y tế khiến cho tuổi thọ trung bình của người dân nước nay tăng từ 48 tuổi đến 52 tuổi, so với cách đây mười một năm nay, tức là kể từ khi Rwanda bắt đầu xây dựng chế độ bảo hiểm y tế.
Với đóng góp hai đô la trên đầu người, hệ thống bảo hiểm y tế tại Rwanda cho phép người dân tiếp cận được với các biện pháp chăm sóc cơ bản để xử lý các nguyên nhân tử vong chính, như tiêu chảy, viêm phổi, sốt rét, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, v.v. Các trung tâm y tế đều gần có đủ các thuốc theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Những người rất nghèo được hưởng các hỗ trợ đặc biệt, mà một trong những nguồn hỗ trợ chính là Quỹ quốc tế chống Sida, u bướu và sốt rét. Quốc gia nông nghiệp, được coi là « Singapore của châu Phi » này, có các đường xá sạch sẽ và tỷ lệ tội phạm thấp, các nếp sống mang tính công dân, như phong trào trồng cây xanh hàng tháng.
Ví dụ của Rwanda mang lại một bài học cho nhiều nước nghèo, đó là với sự đóng góp nếu chia bình quân ra là tương đối thấp, người ta có thể xây dựng được một hệ thống chăm sóc sức khỏe có hiệu quả cho toàn bộ dân cư. Theo New York Times, thực ra đây không chỉ là bài học cho các nước nghèo, Rwanda có thể là một bài học ngay cho chính nước Mỹ. Bài báo kết thúc với lời của Bộ trưởng Y tế Rwanda: « Trong một xã hội, bạn không thể cảm thấy hạnh phúc, nếu như bạn không làm gì để cho những người xung quanh bạn không phải chết vì nghèo khổ ».
Trọng Thành (RFI)