Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Điểm báo Quốc tế

25/07/2010 10 phút đọc Trọng Thành
Đông Nam Á thiếu người làm khoa học  Courrier International tuần này dưới tựa đề « Đông Nam Á thiếu vắng
Điểm báo Quốc tế
Đông Nam Á thiếu người làm khoa học
 
Courrier International tuần này dưới tựa đề « Đông Nam Á thiếu vắng những người làm khoa học » nhận định, các ngành khoa học tại khu vực này lâu nay vẫn thiếu phương tiện và động lực. Chỉ duy nhất có Singapore là thoát được ra khỏi tình trạng này.
 
Biopolis (Singapore), tổ hợp công nghệ y - sinh học cao cấp (DR)
Biopolis (Singapore), tổ hợp công nghệ y - sinh học cao cấp (DR)

Đông Nam Á không thiếu những thách thức, ví dụ các đòi hỏi cách tân trong kỹ thuật tưới tiêu, vấn đề khí hậu nóng lên, dịch cúm các loại, cải thiện năng suất và chất lượng cây lương thực, các loại bệnh hiếm gặp, nhiên liệu xanh,… Câu hỏi được đặt ra là, tại sao lại có quá ít người chọn đi theo những nghề này? Tác giả bài báo đã tìm gặp nhiều người, và nhận được các giải thích khác nhau. Hầu hết mọi người được hỏi đều cho rằng lý do chủ yếu là tài chính.

 

Chan Roath, người phụ trách của Vụ nghiên cứu thuộc Bộ giáo dục Cam Bốt, cho biết, lương của một viên chức không đủ cho các chi phí tối thiểu nhất. Phần lớn mọi người đều phải tìm một việc làm thứ hai để có đủ tiền sống. Đối với phần lớn các nhà khoa học Cam Bốt, kể cả Chan Roath, việc làm thứ hai thường là giảng dạy chính chuyên ngành của mình tại các trường tư. Một số khác làm nghề tư vấn.

 

Còn tại Philippines, mặc dù tình hình có khá hơn, nhưng những người làm nghề khoa học được trả lương thấp hơn rất nhiều so với các dịch vụ giải trí. Tình hình cũng tương tự tại Malaysia, phần lớn các sinh viên xuất sắc nhất tìm việc làm trong các nghề tự do, hơn là tiếp tục làm nghiên cứu sinh. Bên cạnh mức thu nhập thấp, là thiếu hụt về đầu tư các cơ sở thí nghiệm khoa học. Tại Philippines, nạn chảy máu chất xám là một vấn nạn, mặc dù chính phủ nước này có nhiều sáng kiến để tạo ra các môi trường thuận lợi cho các nhà khoa học, để họ không rời khỏi đất nước, hoặc để kéo những nhà khoa học Philippines nổi tiếng trở về chia sẻ kinh nghiệm và đào tạo lớp trẻ.

 

Ông Sakarindr Bhumiratana, chủ tịch Cơ quan quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ Thái Lan đặt câu hỏi, làm thế nào để đào tạo được các nhà nghiên cứu giỏi ? Ông cho biết Thái Lan là nước vốn có truyền thống về nghệ thuật và thơ ca hơn là nghiên cứu khoa học. Thái Lan còn phải làm nhiều để xây dựng các cơ sở hạ tầng cho khoa học và công nghệ. Chính quyền trung ương không mạnh những năm gần đây cũng ảnh hưởng đến việc cải thiện các chính sách trong lĩnh vực này. Chỉ một điều an ủi ông chủ tịch Cơ quan quốc gia về phát triển khoa học và công nghệ Thái Lan là chi phí cho nghiên cứu tại Thái Lan liên tục trong hàng chục năm nay vẫn giữ nguyên ở mức 0,26 % PIB.

 

Bài báo nhận định, chỉ có mỗi Singapore là nổi lên trên tất cả các nước Đông Nam Á còn lại. Quốc gia này không có lợi thế về tài nguyên, cũng như nguồn nhân công giá rẻ. Đầu tư cho khoa học công nghệ, với ngân sách khoảng 2,6 % PIB, được ưu tiên như chìa khóa để tạo được sức cạnh tranh trên thế giới. 7 tỷ euro được đầu tư cho các ngành khoa học công nghệ trong những năm 2006-2010.

 

Hai tổ hợp khoa học kỹ thuật, Biopolis và Fusionopolis, được xây dựng nhằm tạo điều kiện cho các trao đổi giữa những nhà khoa học thuộc các ngành khác nhau, thuộc khối sinh học và các khoa học vật lý và nguyên liệu, cùng với công nghệ tin học và thông tin. Hai tổ hợp này bao gồm các trung tâm nghiên cứu, các khu giải trí, cây xanh. Môi trường này cho phép các nhà khoa học thư giãn, và tiếp xúc, từ đó nhiều ý tưởng độc đáo liên ngành xuất hiện. Những người phụ trách hai tổ hợp Biopolis và Fusionopolis, kỳ vọng thu hút được các nhà khoa học hàng đầu thế giới để tham gia vào phát triển Singapore.

 

Tại Trung Quốc, tương quan lực lượng nghiêng về phía các công nhân, còn tại Việt Nam, lương thấp là lợi thế thu hút đầu tư

 

Cũng trên Courrier International, với bài viết từ tờ The New York Times, dưới tựa đề « Công nhân Trung Quốc kể từ đây chi phối luật pháp », nhận định, những người lao động trẻ hiện nay, được giáo dục tốt hơn cha mẹ mình tỏ ra đòi hỏi hơn. Căn cứ trên tình trạng thiếu lao động hiện nay, tương quan lực lượng nghiêng về phía họ. Bài báo mở đầu với mô tả là đơn xin việc khá lạ lùng của một nữ công nhân thất nghiệp, 25 tuổi, sống tại thành phố Trung Sơn (Quảng Châu). Sau đây là nội dung xin việc:

 

« Tìm việc làm được trả lương cao, với một dây chuyền không quá nhanh, trong một nhà máy có máy điều hòa nhiệt độ, được nghỉ chủ nhật, Internet không dây và máy giặt trong hành lang. Nếu ông chủ dễ chịu thì cộng thêm một điểm nữa. ». Tác giả bài báo gặp cô trong đám đông những người chủ đi tìm công nhân. Cô công nhân thất nghiệp không vội vã, còn những người chủ thì tỏ ra rất chào mời những người đi tìm việc, với nhiều hứa hẹn.

 

Kiểu người lao động tự tin và đòi hỏi cao như người công nhân này đang gây ra khó khăn cho các hãng sản xuất tại lưu vực sông Việt giang, trước đây phát triển là nhờ ở khối nhân công rẻ tiền, cam chịu, nhiều vô kể, từ các vùng nông thôn. Từ một vài tháng nay, rất nhiều người lao động đã rời bỏ các xí nghiệp xa nhà để tìm việc làm nơi gần quê. Tại nhiều xí nghiệp, có đến 15-20% vị trí không có người làm. Các ông chủ phải vất vả đi tìm người.

 

Tình trạng thiếu nhân công tạo thế mạnh cho những người lao động để họ tiến hành nhiều cuộc bãi công tại Trung Sơn, khiến các hoạt động của công ty Honda bị tê liệt trong tháng 4. Hiện tại, phong trào đã dịu xuống với việc yêu cầu tăng lương được chấp nhận. Tuy nhiên, các nhà dân số học đã dự đoán một kết quả khá đen tối. Trong mười năm nữa, dân số trong lứa tuổi 16 đến 24 sẽ giảm xuống một phần ba, tình trạng khan hiếm nhân công còn nặng hơn nữa.

 

Trong khi đó tại Việt Nam, lợi thế nhân công giá rẻ lại là yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài. Lương một công nhân Việt Nam tương đương 2/3 lương công nhân Trung Quốc. Kể từ lúc mở đầu làn sóng bãi công tại Trung Quốc vào tháng 5 đến nay, tập đoàn Sumitomo của Nhật đã mở thêm 4 chi nhánh nữa tại Việt Nam. Năm 2011 công ty thép đứng thứ 2 thế giới Nippon Steel sẽ đặt cơ sở tại miền Nam Việt Nam. Nhiều tập đoàn đưa ra chủ trương « Trung Quốc + 1 », có nghĩa là mở một chi nhánh tại Trung Quốc, một tại một nước châu Á. Tuy nhiên, tại Việt Nam, cũng như Trung Quốc, bãi công thường xuyên xảy ra. Shinji Onishi, giám đốc của công ty Thăng Long 1, nơi có 50.000 lao động, phàn nàn, các cấp trên của ông thường lo lắng bãi công có thể xảy ra bất ngờ, trong khi các đối thoại với công nhân lại không được tổ chức. Công nhân không tham gia vào nghiệp đoàn. Chế độ hiện nay cấm các tổ chức hoạt động độc lập bên ngoài sự lãnh đạo của đảng Cộng sản.

 

Thế hệ những đứa con của chiến tranh

 

Cũng trên tuần báo Courrier International, dưới tựa đề « Trận đánh cuối cùng của những đứa con của chiến tranh », bài viết từ Francfort mô tả thế hệ những người sinh ra trong chiến tranh có cha là binh lính trong quân đội Đức phát xít chiếm đóng nước Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai. Tại Pháp, người ta gọi họ là « những đứa con của chiến tranh ».

 

Theo tờ Frankfurter Rundschau, tại châu Âu có hàng trăm nghìn người sinh ra từ mối quan hệ giữa lính Đức và phụ nữ nơi các vùng đất bị chiếm đóng. Mẹ của họ có thể là người yêu, cũng có thể là gái điếm hay bị hãm hiếp. Tại Pháp, số lượng những con lai này có thể lên đến 200.000 người. Tại Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch hay Na Uy, cũng có hàng chục nghìn người. Cho đến nay, một số người đã nhận được quốc tịch Đức.

 

Gerlinda Swillen, sống tại Bỉ, sinh năm 1942, là một trong những người như vậy. Sau khi về hưu, bà vẫn luôn luôn tìm kiếm bố mình, mà tên tuổi chỉ mới biết được chính xác cách đây 3 năm. Trong thời gian tìm kiếm, bà đã nối lại với lịch sử của gia đình bên Đức. Cảnh ngộ riêng khiến Gerlinda Swillen quan tâm đến những người Bỉ sinh ra trong chiến tranh với hoàn cảnh tương tự. Bà đã viết sách về chuyện này và hiện nay là người phát ngôn của Born of War International Network, bao gồm các hiệp hội những đứa con của chiến tranh. Mục tiêu của Gerlinda Swillen là yêu cầu chính phủ Đức cam kết với châu Âu bảo đảm quyền lợi cho những người con Đức, thông qua một hiệp ước ở tầm châu Âu, để buộc các nước, như Hoa Kỳ cũng phải tham gia. Mục tiêu của bà không phải chứng tỏ mình là nạn nhân, mà là để làm được một điều gì đó cho thế hệ nối tiếp và tương lai của họ.

 

Đòi hỏi của các hiệp hội những đứa con của chiến tranh là phải được công nhận quốc tịch, đồng thời các nước phải cam kết giúp họ tìm lại cha mẹ. Vấn đề « trẻ em của chiến tranh » không chỉ liên quan đến Thế chiến thứ hai tại châu Âu, mà tình hình cũng tương tự như tại Việt Nam, trong các cuộc chiến tranh thực dân, hay nội chiến tại châu Phi, Bosnie-Herzégovine, tại Irak và hiện nay tại Afghanistan. Những đứa con của chiến tranh thường không biết mình sinh ra từ đâu và thường không có quê hương.

 

Yêu cầu công nhận quốc tịch của bà Gerlinda Swillen hiện đang được chính quyền Đức xem xét. Bà được cho biết là việc xử lý hồ sơ sẽ kéo dài rất lâu.

 

Trọng Thành (RFI)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu