Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Điểm báo Quốc tế

12/08/2010 13 phút đọc Lê Phước
Kinh tế Mỹ phục hồi chật vật   Liên quan đến nền kinh tế lớn nhất thế giới,
Điểm báo Quốc tế
Kinh tế Mỹ phục hồi chật vật
 

Liên quan đến nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhật báo Le Monde hôm 12/8 dành trang nhất chạy bài: « Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ báo động về sức khỏe tồi tệ của nền kinh tế Hoa Kỳ. »

 
Cảnh các nhà môi giới làm việc tại thị trường CME (Chicago) (10/08/2010). Sự phục hồi kinh tế Mỹ chưa thể đem lại sự tin cậy cho các nhà đầu tư. REUTERS/John Gress
Cảnh các nhà môi giới làm việc tại thị trường CME (Chicago) (10/08/2010). Sự phục hồi kinh tế Mỹ chưa thể đem lại sự tin cậy cho các nhà đầu tư. REUTERS/John Gress

Trước những dấu hiệu không mấy sáng sủa của sự phục hưng kinh tế Mỹ, Cục Dự Trữ Liên Bang (FED) đã quyết định tái khởi động biện pháp hỗ trợ kinh tế bằng cách mua lại nợ chính phủ của các ngân hàng, với mục tiêu kép là bơm tiền vào nền kinh tế và ngăn chặn việc tăng lãi suất ngân hàng. Ngân hàng Trung ương Mỹ cho hay các chỉ số kinh tế của mấy tuần qua rất u ám: Tỷ lệ thất nghiệp còn rất cao (9.5%), lĩnh vực bất động sản chưa phục hồi …


Quyết định này cho thấy FED đã thay đổi quan điểm trong đánh giá tình hình kinh tế. Ngày 23 tháng 6, FED cho rằng kinh tế đang phục hồi và thị trường lao động đang dần dần cải thiện. Thế nhưng từ đây, FED đã phải thừa nhận  là trong những tháng qua, lĩnh vực sản xuất và việc làm phục hồi chậm. Trong bản thông cáo hôm thứ ba, FED thông báo mức tăng trưởng kinh tế cho năm 2010 là 2.9%. Mặt khác, quyết định này cho thấy lo lắng đang tăng vì thời gian thoát ra khủng hoảng sẽ kéo dài hơn dự kiến.


Mức tín nhiệm vào nền kinh tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Mỹ đã giảm. Về việc kiềm chế lạm phát, thì nhiều tháng nay các nhà phân tích của Mỹ đã cảnh báo về kịch bản một nền kinh tế tăng trưởng yếu ớt đi kèm với giá tiêu dùng và lương giảm xuống. Hiện tại, giá cả thì đình trệ do mức tiêu dùng đã giảm, còn giới chủ thì buộc phải giảm lương nhân viên. Vì thế, mối lo ngại cho việc kiềm chế lạm phát đang lớn dần.


FED cho rằng, hiện tại, tai hại nhất là đa số các thị trường cũng như các chuyên gia kinh tế đều cho rằng những biện pháp được thông qua còn tương đối khiêm tốn, và vì thế cũng sẽ cho kết quả khiêm tốn.


Cũng liên quan đến khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ, nhật báo Les Échos đăng bài: « Những lo lắng về khả năng phục hồi kinh tế lại làm cho thị trường  căng thẳng». Tờ báo dẫn lại lời của ông Guy Lebas thuộc Công ty tài chính Janney Montgomery Scott đăng trên Wall Street Journal cho rằng: « Thông cáo về quyết định của FED giống như một lời cảnh báo người đi vé hạng sang của con tàu Titanic rằng, hãy cẩn thận,  con tàu này chắc gì sẽ không bị chìm. »
Les Échos cũng cho hay theo các nhà nghiên cứu, FED đã phạm những sai lầm trong công tác dự báo về tỷ lệ lạm phát và về thị trường lao động. Trong báo cáo quý, FED dự báo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Mỹ quá cao trong giai đoạn nền kinh tế ngưng trệ, nhưng lại ước đoán quá thấp tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, khi nền kinh tế tăng mạnh. Thêm vào đó, giới chức phụ trách tiền tệ lại dự báo quá thấp tỷ lệ lạm phát khi giá cả tăng, và dự báo quá cao tỷ lệ lạm phát khi giá cả xuống thấp.


Hôm 11/8, sự bi quan của FED đã được các ngân hàng trung ương các quốc gia khác chia xẻ. Ngân Hàng Trung Ương Anh Quốc cho rằng sự phục hồi kinh tế sẽ tiếp tục, nhưng có thể sẽ chậm hơn dự kiến vì lòng tin của các doang nghiệp và người tiêu dùng đã giảm, và do các điều kiện cho vay tín dụng chậm được cải thiện. Ngân Hàng Trung Ương Na Uy thì vẫn giữ tỷ lệ lãi suất tiền gửi ở mức 2%,  vì ngân hàng này cho rằng viễn cảnh của nền kinh tế Mỹ thật quá bấp bênh.

 

Bài học nào rút ra từ các vụ thiên tai đang hoành hành trên thế giới?

 

Về các vụ thiên tai đang hoành hành trên thế giới, hai tờ  L’Humanité và Liberation đều có bài phân tích trên trang nhất, nhưng đáng chú ý nhất là bài đăng trên L’Humanité: « Bài học nào rút ra từ Nga, Pakistan, Trung Quốc…? ». Tờ báo đặt câu hỏi: Thiên tai dồn dập xảy ra ở Châu Âu và Châu Á có phải là bằng chứng cho thấy hiện tượng Trái Đất nóng lên? Trả lời phỏng vấn L’Humanité, nhà khí hậu học Hervé Le Treut, thuộc Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc, cho biết rằng hiện tượng khí hậu nóng lên không thể được khẳng định chỉ qua một hiện tượng riêng lẻ hay chỉ trong thời gian ngắn ngủi một năm, mà việc đó phải cần nhiều thập niên và qua nhiều hiện tượng. Vì thế hiện tại rất khó để khẳng định chắc chắn rằng thiên tai đang hoành hành ở Pakistan hay ở Nga là hậu quả của hiện tượng nóng lên của Trái Đất.


Tờ báo cũng cho hay, thường thì thiên tai xảy ra nhiều nhất ở các nước nghèo nhất như hạn hán ở Châu Phi và lũ lụt ở Châu Á. Theo báo cáo của Liên Đoàn Chữ thập đỏ và Lưỡi liềm đỏ quốc tế, ở các nước này số người chết do thiên tai năm 2007 đã vượt con số kỷ lục của thảm họa sóng thần năm 2004.


Việc bất đồng quan điểm giữa nước giàu và các nước nghèo đang dai dẳng. Thậm chí các nước có nền công nghiệp phát triển, tức là những nước tham gia thảo luận hỗ trợ tài chính giúp các nước nghèo bị thiên tai, cũng tỏ ra nghi ngờ về việc xem thiên tai có nguyên nhân từ biến đổi khí hậu. Còn đối với các nước đang phát triển thì cuộc chiến chống biến đổi khí hậu mang tính sống còn. Ông Bruno Tseliso Sekoli, đại diện của nhóm các nước nghèo nhất hành tinh đã phát biểu hồi tuần rồi ở Bonn trong cuộc thương thảo về khí hậu, cho rằng: « Bão lụt, hạn hán: Đối với chúng tôi đó là một thực tế chết người của hiện tượng biến đổi khí hậu. Chúng tôi sẽ không thể tiếp tục chịu đựng. » Về phần mình, đại sứ Cônggô, kiêm trưởng nhóm các nước Châu Phi, ông Mpanu Tosi thì mạnh miệng tuyên bố: « Chúng tôi phải đối mặt với hậu quả của hiện tượng trái đất nóng lên, trong khi chúng tôi không phải thủ phạm. » Ông cũng nhắc lại trách nhiệm về mặt lịch sử của các nưuớc giàu phương Bắc trong việc làm ô nhiễm bầu khí quyển. Ông cho rằng, việc hỗ trợ các nước nghèo là một sự trả nợ mà các nước giàu phải làm, chứ không phải là sự giúp đỡ.


Tờ báo kết luận: 30 tỷ đô la mà các nước giàu hứa chi khẩn cấp trong 3 năm tới hiện tại vẫn còn chưa chắc chắn, còn khoản tiền hỗ trợ dài hạn 100 tỷ đô la thì vẫn luôn là lý thuyết suông.


Le Monde giải mã nguyên nhân dẫn đến vụ lở đất ở Châu Khúc, tỉnh Cam Túc  
Nhật báo Le Monde quan tâm đến Trung Quốc với câu hỏi: « Có phải sự phát triển theo kiểu Trung Quốc là nguyên dẫn dẫn đến  vụ lở đất ở Châu Khúc? »
Tờ báo thống kê vụ lở đất hôm 7 tháng 8 ở huyện Châu Khúc, tỉnh Cam Túc (Trung Quốc) đã làm 702 người chết và hơn 1000 người mất tích. Qua đó, tờ báo khẳng định rằng nguyên nhân có thể là do nạn khai thác quá mức về thủy điện, rừng và các mỏ quặng.


Theo báo cáo của Trường Đại học Lan Châu (Cam Túc) thì các ngọn núi ở địa phương này đã trở nên rất yếu, có thể dễ dàng bị sạt lở; hiện tượng này là hậu quả của việc phá rừng, khai thác hầm mỏ, do các đập thủy điện và do hoạt động khác của con người. Hiện tại, nạn phá rừng đã được kiểm soát nghiêm ngặt, nhưng chính quyền đã xây dựng thêm 41 đập thủy điện năm 2003 và đang dự kiến sẽ xây thêm 12 đập nữa. Như vậy hiện tại, có hơn 1000  đập thủy điện trên thượng nguồn sông Bạch Long. Một kỹ sư thuộc Văn phòng Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản tỉnh Tứ Xuyên khẳng định: nếu các con đập này không là tác nhân trực tiếp gây thiên tai khi có mưa lớn xảy ra, thì nó cũng góp phần làm cho thiên tai trở nên nghiêm trọng hơn.


Tình trạng phá thai vì giới tính thai nhi ở Việt Nam
Libération hôm 12/8 có bài phản ánh về một hiện tượng xã hội đang phổ biến ở Việt Nam với thông tin: « Siêu âm, kẻ thù của các bé gái Việt Nam ».


Tác giả cho hay dưới áp lực của gia đình nhiều phụ nữ Việt Nam đi phá thai khi siêu âm biết bào thai là gái. Người Việt Nam xem phá thai như là một trong những biện pháp tránh thai, vì thế việc phá thai được thực hiện cho thai nhi đến tận 18 hay 20 tuần tuổi. Những năm gần đây, các phòng mạch lao vào ngành thương mại siêu âm. Chính phủ đã có phản ứng bằng cách cấm bác sỹ tiết lộ giới tính thai nhi. Thế nhưng, do thiếu kiểm tra và do tham nhũng, các biện pháp xử phạt không được áp dụng. Kết quả là theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, ở Việt Nam tỷ lệ sinh nam-nữ là 110,5 /100. Một phụ nữ đã sinh được hai gái, và hiện đang mang thai 5 tháng tâm sự: « Lần này, nếu không sinh được bé trai, thì quan hệ vợ chồng tôi sẽ bị nguy hại ». Người phụ nữ này đang chờ kết quả siêu bào thai để quyết định là có phá thai hay không. Theo văn hóa Việt Nam, phụ nữ khi gả di rồi phải có trách nhiệm lo cho gia đình chồng. Những cặp vợ chồng không có con trai khi về già thì phải sống cô đơn và nghèo khổ. Thảm hại hơn nữa là, nếu họ không có con trai thì bị buộc tội là không làm tròn trách nhiệm duy trì nói giống và thường bị truất quyền thừa kế.


Thách thức hiện tại của Đảng Dân Chủ Nhật Bản
 
Nhật báo Le Figaro hôm 12/8 đăng bài phân tích của giáo sư đạo đức học Hoa Kỳ ông Ian Buruma. Bài phân tích nguyên nhân tại sao việc lên cầm quyền của Đảng Dân Chủ Nhật Bản cách đây một năm đã mang đến cho người dân nhiều hứa hẹn không được thực hiện.


Tác giả nhắc lại việc năm 2009 Đảng Dân Chủ Nhật Bản đã giành thắng lợi, chấm dứt 54 năm cầm quyền liên tục của Đảng Dân Chủ Tự Do bảo thủ. Theo tác giả, thắng lợi này không phải là một cuộc cách mạng, nhưng nó đã chấm dứt được với quá khứ để mở đường cho những hy vọng mới trong  tương lai. Thế nhưng, do chưa có nhiều kinh nghiệm cầm quyền, nên các chính trị gia Đảng Dân Chủ Nhật Bản đã phạm sai lầm.  Sai lầm nghiêm trọng nhất là hồi tháng 6 vừa rồi, thủ tướng Nhật ông Naoto Kan đã thông báo tăng thuế tiêu dùng ngay trước cuộc bầu cử Thượng viện, và dĩ nhiên trong cuộc bầu cử này Đảng Dân Chủ Nhật Bản đã thất bại. Chính phủ này lại gây thất vọng cho người Nhật khi không thể thuyết phục được Mỹ rút căn cứ khỏi Okanawa.


Tác giả cho rằng việc Nhật Bản quá lệ thuộc vào sức mạnh quân sự của Mỹ cũng là nguyên nhân gây cản trở cho tiến trình phát triển dân chủ ở Nhật. Nhật Bản chẳng qua cũng là một sản phẩm của Thế Chiến thứ Hai và của Chiến Tranh Lạnh. Trong thế chiến thứ hai, Nhật Bản giữ vai trò là nước tiền tiêu trong cuộc chiến chống Cộng Sản. Rồi cũng như ở Ý, đảng cánh hữu Nhật Bản được Mỹ ủng hộ để ngăn chặn việc lên nắm quyền của đảng cánh tả. Ngay như trong những năm 50 của thế kỷ trước, nhiều tội phạm chiến tranh Nhật còn trở thành đồng minh tay sai cho Mỹ trong cuộc chiến chống Cộng Sản, có tay còn leo được lên chức thủ tướng Nhật Bản.


Thế nhưng xã hội hiện tại đã khác nhiều so với những năm 1945. Ở Châu Á, Trung Quốc đã trở thành một đại cường quốc. Nhật Bản và các nước Châu Á cần phải thích nghi với tình hình mới này. Đảng Dân Chủ Nhật Bản đang mong muốn đất nước Nhật có thể hành động độc lập hơn so với Mỹ và muốn Nhật Bản trở thành đồng minh chứ không phải là nước được Mỹ bảo hộ. Và việc làm đầu tiên cho mục đích này là chính phủ ông Naoto Kan phải thuyết phục được Hoa Kỳ rút căn cứ quân sự khỏi đảo Okinawa.


Thế nhưng Hoa Kỳ lại nhìn sự việc  một cách khác. Hoa Kỳ dường như thích Nhật Bản là một nước độc đảng, biết nghe lời hơn.


Tác giả kết luận: chính phủ Obama đang đấu tranh để thực hiện lời hứa thay đổi trong cách ứng xử của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ phải biết tỏ ra thông cảm nhiều hơn với chính phủ Nhật; nếu Hoa Kỳ thật sự muốn thúc đẩy phát triển tự do ở các nước thì Hoa Kỳ không nên phá đi những nỗ lực củng cố dân chủ của một trong những nước đồng minh thân cận nhất của mình.

 

Lê Phước (RFI)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu