
Ảnh Ông Cao Long VânTSKH, Giáo sư Vật lý, Phó Chủ nhiệm khoa Vật lý và Thiên văn, trường ĐHTH Zielona Gora, Cộng hòa Ba Lan .
Trong đúng ngày lịch sử của dân tộc, khi cả nước sôi nổi kỷ niệm ngày Cách Mạng Tháng Tám, một sự kiện đã đem lại niềm hân hoan và tự hào tột bực cho mỗi một người Việt Nam trong và ngoài nước: Giáo sư Ngô Bảo Châu, nhà toán học trẻ lỗi lạc Việt Nam đã nhận được huân chương Fields, một giải thưởng cao nhất về toán học được đáng giá tương đương với giải Nobel cho các lĩnh vực khoa học khác. Trong không khí vui chung này, là một trong những người nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học cơ bản, nhiều năm trăn trở với nền khoa học của nước nhà, tôi xin phép được đóng góp một ý kiến nhỏ: Giáo sư Ngô Bảo Châu là kết quả của một cách đi đúng đắn trong việc đào tạo tài năng khoa học của Đảng và Nhà nước ta từ những năm chín mươi thế kỷ trước trở lại đây.
Sau khi hoàn thành luận văn Tiến sỹ (nay gọi là Tiến sỹ khoa học) cuối năm 1986 tại Viện Hàn Lâm Khoa Học Ba Lan, ở lứa tuổi 34, tôi đã nhận được giấy mời của Hội Quang học Mỹ sang dự hội nghị khoa học toàn thể ở Mỹ và gia nhập Hội. Đó là điều rất bình thường đối với bất cứ một nhà khoa học nào có những kết quả nghiên cứu có giá trị nhất định, mà các công trình liên quan đến luận văn TSKH là những công trình như vậy. Hồ sơ cùng đơn xin của tôi đã được trình lên các cấp, trải qua những xem xét ngặt nghèo để rồi nhận được một câu trả lời không có giải thích: Không nên đi. Tuy vậy tôi vẫn được thuận lợi hơn nhiều các bạn đồng nghiệp, ngay cả sau khi bảo vệ luận văn tiến sỹ, khi trở về nước bị rơi ngay vào „lỗ đen”, hoàn toàn mất liên lạc với khoa học thế giới. Trong thời gian này, qua nhiều lần trở về nước công tác, thấy được những điểm không hợp lý trong việc đào tạo và nuôi dưỡng các tài năng trẻ trong thời kỳ bao cấp, tôi đã mạnh dạn đề đạt những ý kiến của mình trong bài viết „Suy nghĩ về việc đào tạo tài năng trẻ trong khoa học”, được đăng trong báo Nhân Dân ngày 13 tháng hai năm 1990. Tôi xin nhắc lại những điểm chính của bài báo đó, khi thấy rằng những ý kiến đó rất đúng với trường hợp Giáo sư Ngô Bảo Châu và vẫn tiếp tục mang tính thời sự.

Trong bài báo của mình, tôi đã nhấn mạnh (những ý kiến trích dẫn này sẽ được viết bằng chữ nghiêng): „Theo một tờ báo phương Tây...nhiều trẻ em Việt Nam sinh ra trong hoàn cảnh vật chất khó khăn của chiến tranh lại thuộc số trẻ em có chỉ số thông minh cao nhất...Chúng ta đã có những trẻ em rất thông minh – một tài sản quốc gia vô cùng quý báu”. Ngô Bảo Châu đã ra đời vào cuối năm 1972, trước „trận Điện Biên Phủ trên không” một chút. Chắc chắn bố mẹ của anh vẫn còn nhớ những năm tháng thiếu ăn, mỗi tháng chỉ có một lạng rưỡi thịt trên đầu người, thường xuyên đói cơm, lại phải học tập và làm việc dưới ánh sáng đèn dầu và trong tiếng gầm thét của máy bay phản lực Mỹ... Anh đã lớn lên và được đào tạo trong „một hệ thống giáo dục phổ thông cải tiến đã được triển khai, trong đó có việc lập ra các lớp chuyên dành cho những học sinh năng khiếu”. Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 40 năm khối THPT chuyên của ĐHSP Hà nội (Xem kỷ yếu hội thảo về đề tài này tháng 12 năm 2006), với tư cách là một học sinh khóa 2 của khối này, tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của giai đoạn „ươm cây” này trong việc đào tạo các nhân tài, với nền móng là các „lớp toán đặc biệt” được thành lập hơn 40 năm trước cạnh ba trường đại học lớn của miền Bắc Việt Nam: Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm Hà nội II và Đại học Sư phạm Vinh (hiện nay là Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Vinh), nay phát triển thành các lớp chuyên ở các cấp từ địa phương đến trung ương. Các lớp này đã lập nên những thành tựu to lớn trong việc đào tạo các nhà khoa học cho nhiều ngành, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đào tạo và xây dựng ở Việt Nam và cả trên phạm vi quốc tế. Mặc dù luôn luôn phải cải cách trong phương pháp giảng dạy trong các lớp chuyên, tôi đã khẳng định trong bài viết cho kỷ yếu nói đến ở trên, học sinh của các lớp chuyên „riêng về môn toán...có thể „ngang ngửa” tranh tài với bất cứ nền giáo dục tiên tiến nào trên thế giới”. Ngô Bảo Châu đã là học sinh trường thực nghiệm Giảng Võ, đã được tuyển chọn vào lớp chuyên toán của ĐHTH Hà nội, đã „tham dự các kỳ thi quốc tế và giành được giải cao”, cụ thể là hai lần được huy chương vàng trong các kỳ thi olympic toán quốc tế năm 1988 và 1989, trước khi tôi viết bài báo cho báo Nhân Dân được vài tháng!
Trong bài báo, tôi rất băn khoăn, „trong số các em có năng khiếu, thậm chí ngay trong số những học sinh giỏi được giải, có bao nhiêu phần trăm thuộc loại có „bản năng sáng tạo”?”. Tôi đã rất lo lắng khi những tài năng trẻ đó, khi được vào đại học trong nước, được hưởng „cách đào tạo trong các trường đại học của ta mang rõ nét „ươm cây” hơn là „trồng cây”, các em sẽ „...không tiếp cận được với khoa học – kỹ thuật hiện đại, kiến thức sẽ bị mai một dần”, và tôi đã kiến nghị: „Những sinh viên học giỏi, có năng lực cần được cấp hộ chiếu để có dịp tiếp xúc với những trung tâm khoa học lớn của thế giới”. Giáo sư Ngô Bảo Châu đã được du học ở một trong những nơi là đỉnh cao nhất của nền toán học thế giới: Với truyền thống toán học đồ sộ của mình cùng các tên tuổi như Galois, Cauchy, Lagrange...nước Pháp chỉ riêng năm nay đã giành hai giải thưởng Fields, trong đó có Giáo sư Ngô Bảo Châu của chúng ta. Giả sử nếu không có khủng hoảng chính trị ở Châu Âu vào những năm cuối tám mươi của thế kỷ trước, Giáo sư Châu chắc lại nghiên cứu ở Hung-ga-ry hay một trong những nước thuộc Đông Âu cũ và chưa chắc đạt được đỉnh cao khoa học như ngày nay.
Khi viết bài báo năm 1990, qua „...trao đổi ý kiến với một số nhà khoa học đầu đàn của nước ta...chúng tôi đều nhất trí với nhau rằng chúng ta mới có những nhà khoa học „thạo nghề”, có khả năng thực thi những tư tưởng khoa học của nước ngoài, mà chưa có các „nghệ nhân khoa học” đủ sức sáng tạo những tư tưởng mới cho khoa học thế giới. Tất nhiên phải có thời gian và nỗ lực ghê gớm mới có thể vươn tới trình độ đó”. Song tôi đã hy vọng rằng „các cấp các ngành sẽ quan tâm thích đáng...tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ có thể dễ dàng ra nước ngoài, tiếp xúc với khoa học thế giới...để trong một tương lai không xa, từ lớp trẻ thông minh ngày nay xuất hiện những thiên tài khoa học Việt Nam – những người góp phần làm phong phú kho tàng trí thức nhân loại và làm vẻ vang cho dân tộc ta”. Từ đó đến nay đã hơn hai chục năm, quả thật là một „tương lai không xa” , với sự đổi mới trong chính sách đào tạo thế hệ trẻ của Đảng và Nhà nước, theo cách „ươm cây” trong nước và „trồng cây” ở những trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật lớn của thế giới, ta đã có được một „cây đại thụ” trên nền toán học thế giới là Giáo sư Ngô Bảo Châu. Tin tưởng rằng từ „tài sản quốc gia vô cùng quý báu” là các trẻ em thông minh, ta sẽ tiếp tục có thêm các cây „đại thụ” trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác, đóng góp đắc lực vào „kho tàng trí thức nhân loại và làm vẻ vang cho dân tộc ta”.
Cao Long VânTSKH, Giáo sư Vật lý, Phó Chủ nhiệm khoa Vật lý và Thiên văn, trường ĐHTH Zielona Gora, Cộng hòa Ba Lan