Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Mấy nét về lịch sử nền dân chủ

03/12/2010 13 phút đọc BBT
Ngày nay trên thế giới không mấy nước đặt quốc hiệu lại không dùng danh từ „cộng hòa” hay „dân chủ”. Vậy dân
Mấy nét về lịch sử nền dân chủ

Ngày nay trên thế giới không mấy nước đặt quốc hiệu lại không dùng danh từ „cộng hòa” hay „dân chủ”. Vậy dân chủ là gì? Tất nhiên có nhiều cách định nghĩa, khuôn mẫu nền dân chủ cũng mỗi nơi một kiểu, mỗi thời một khác. Chỉ có một nét chung cho tất cả mọi nền dân chủ, đó là: đặt nhà cầm quyền dưới sự kiểm soát của xã hội! Nhưng tại sao phải (hoặc nên) xây dựng nền dân chủ, tức đặt nhà cầm quyền dưới sự kiểm soát của xã hội? Bởi vì những người có quyền hành quá lớn trong tay mà lại không lạm dụng thì đấy là việc trên đời chưa từng có.

 

Ở Trung Hoa và các nước phương đông bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…, thời cổ có Nho giáo thịnh hành. Nho giáo sinh ra từ đức Khổng Tử (551-479 tr.CN.) thời Xuân Thu. Đạo của ngài dựa trên giả thuyết „nhân sinh sơ bản tính thiện”, nghĩa là con người ta tính vốn lành, ai cũng có thể nên được như Nghiêu, Thuấn[1] cả. Khổng Tử truyền đạo cho Tăng Sâm, Tăng Sâm truyền cho Khổng Cấp, Khổng Cấp truyền cho Mạnh Kha tức là thầy Mạnh Tử. Mạnh Tử trong lúc đàm đạo với vua Đặng Văn Công về phép trị nước có nói đại khái: „Những việc liên quan đến dân chúng không được chậm trễ. Không có hằng sản (tức nghèo đói) mà vẫn có lương tâm thì chỉ có kẻ sĩ mới làm được. Còn dân chúng không có hằng sản, tất không có lương tâm. Không có lương tâm thì phóng túng làm càn, phá hoại kỷ cương. Chờ người ta mắc tội rồi mới đem hình phạt ra trị, có khác nào như mang lưới võng đánh bẫy người ta. Những bậc minh quân đâu có làm những việc đánh bẫy bề tôi như thế”?  Vậy Mạnh Tử nhìn con người có khắt khe hơn Khổng Tử, nhưng chung quy vẫn bàn đến trung, tín, lễ, nghĩa…. Về cơ bản, xã hội muốn tốt đẹp, vẫn chỉ biết trông chờ vào những bậc minh quân, những quan lại hiền tài. Đạo Khổng, Mạnh ăn sâu đến mức, ngày nay nhiều người dù không biết Nho giáo là gì, vẫn mang nặng trong đầu tư tưởng ấy. Tất nhiên không thể phủ nhận được vai trò của những vị minh quân và tầng lớp kẻ sĩ, nhưng trong một xã  hội quá tin tưởng vào tính thiện của con người, không thể sản sinh ra nền dân chủ. Nền dân chủ chỉ có thể được sinh ra ở những nơi có điều kiện hoàn toàn khác.  

 

Nếu ai quan tâm đến truyền thuyết và tôn giáo của người Hy Lạp cổ đại sẽ thấy các thần của họ được tưởng tượng giống con người. Các nam thần thì tàn ác, đa tình; các nữ thần thì nham hiểm, đa dâm. Nói cách khác, quan điểm của họ về con người khác với quan điểm ở phương đông, nghĩa là: con người sinh ra vốn không thiện, không quan trọng đấy là thần dân, quan lại hay vua chúa. Hễ có chức quyền, cho rằng không ai làm gì được mình,  thường hay lạm dụng.  Cho nên không có gì ngạc nhiên là thể chế dân chủ đầu tiên trên thế giới được sinh ra ở thành Aten nước Hy Lạp.

 

Xưa kia Aten cũng như các nơi khác, do các vua chúa có quyền lực tuyệt đối cai trị. Bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII tr.CN, các vua chúa được thay thế bằng hội đồng quý tộc. Các nhà quý tộc chia nhau những chức vụ quan trọng nhất như chỉ huy quân đội, điều khiển tòa án, hòa thượng tối cao. Vì con người vốn không hoàn thiện, nên thay đổi thể chế vẫn chưa đủ, phải có luật pháp để răn đe. Một trong những nhà soạn luật nổi tiếng nhất thời cổ ở thành Aten là Drakon (thế kỷ VII tr.CN) Hình phạt của ông này tàn ác đến mức 700 năm sau, nhà văn Hy Lạp Plutarch nhận xét: "Luật Drakon viết không phải bằng mực mà bằng máu". Đến tận ngày nay người  châu Âu vẫn lấy tên Drakon để chỉ những gì quá hà khắc. Theo luật Drakon, vay nợ đến thời hạn không trả được sẽ bị biến thành nô lệ; ăn trộm quả táo hay cái cải bắp phải tội chết; lười biếng cũng phải tội chết... Drakon nói: "Vẫn biết những tội nặng nhẹ khác nhau mà hình phạt như nhau là không công bằng, nhưng tôi không nghĩ được hình phạt nào nặng hơn tội chết"! Dân Aten cho rằng luật tuy tàn ác, nhưng vẫn hơn là không có luật. Chỉ có những người bị Drakon giết chết thì không cho đấy là phải! Đến thế kỷ thứ VI tr.CN. thể chế và luật pháp ấy mới được hai nhà cải cách là Solon và Klistenes sửa đổi. Các công dân tự do tụ tập ở bãi chợ trung tâm thành phố - gọi là Agora - để trực tiếp quyết định những vẫn đề hệ trọng như chiến tranh, hòa bình, xây dựng đền đài, bầu bán ra những nhà chức trách điều khiển đất nước... Thể chế chính trị ấy tiếng Hy Lạp gọi là "Demokratos", do ghép hai từ: "Demos" (nhân dân), và "Kratos" (chính quyền). Đó chính là nền dân chủ đầu tiên trên thế giới. Nền dân chủ Aten kéo dài đến cuối thế kỷ thứ IV tr.CN, khi Hy Lạp bị nước Macedonia của Alekxander Đại Đế đánh bại và cai trị.

 

Nền dân chủ Aten cố nhiên vẫn còn sơ khai, không được nhà đại hiền triết Hy Lạp thời cổ là Arystoteles (384-322 tr.CN) tán thành. Theo Arystoteles, thể chế tốt đẹp nhất cũng là dân chủ, nhưng phải là dân chủ lập hiến, nghĩa là dựa trên hiến pháp. Thể chế ấy phải hơn 2000 năm sau, tức đến thời hiện đại mới được thiết lập.