Chấm dứt chấp thuận
Dân Hồi giáo ở Hà Lan, tội phạm ở Pháp, ăn bám ở Đức – dân di cư trở thành những con dê tế thần của châu Âu. Chúng ta có cần dân nhập cư không? Chúng ta có khả năng giúp họ hoà nhập được không? Vấn đề tế nhị này với toàn bộ oái ăm đang đứng trước Ba Lan.
Dân di cư là bộ mặt của châu Âu. Chỉ cần bước ra phố bất kỳ một thủ đô phương Tây nào cũng có thể nhìn thấy tất cả mọi chủng tộc thế giới, nghe thấy hàng trăm thứ ngôn ngữ, thưởng thức hàng chục loại ẩm thực và văn hoá. Nhưng cũng chỉ cần nhìn ra phía sau của nhà hàng, quan sát những ngưới đi hót rác hay công nhân xây dựng, ta sẽ thấy dân nhập cư làm những việc bẩn thỉu nhất và rẻ mạt nhất. Cuối cùng chỉ cần mở bất kỳ tờ báo châu Âu nào cũng đi đến kết luận họ là vấn đề chung duy nhất thực sự của cả lục địa: Ở Hy Lạp gây sóng gió trên các đảo, ở Đức moi móc hệ thống xã hội, ở Pháp cảnh sát bị tấn công, ở Hà Lan ai chỉ trích Hồi giáo thì bị dọa giết.
- Tranh luận về nhập cư không phù hợp với thực tế các con số - Cris Beauchemin, Viện Nghiên cứu Dân số Quốc gia ở Pari nói. Nước Pháp không còn là đất nước để nhập cư hàng loạt – theo báo cáo cuối cùng của OECD năm 2008 có 167 nghìn người đến nước này. Ở Đức nơi đang tranh luận mãnh liệt về di cư, nhưng con số di cư từ hai năm nay bị âm – số người rời bỏ Cộng hòa Liên bang nhiều hơn là người đến. Tây Ban Nha ba năm về trước nhận 682 nghìn người di cư, một năm sau chỉ có 391 nghìn người đến – giảm 43%. Thậm chí ngày nay Hy Lạp, nơi có nguy cơ bị dân di cư từ châu Phi thâm nhập bất hợp pháp cao nhất, số người bị bắt khi vượt Địa Trung Hải giảm so với năm trước là 26%.
Người châu Âu than phiền về việc di cư, nhưng nguồn gốc của sự không hài lòng thực ra lại là hội nhập. Đó là quá trình thâm nhập của những người mới đến vào cộng đồng châu Âu, còn nhân vật chính lại là những người mà bao nhiêu năm nay không chịu hòa đồng. Ở Pari người nhập cư có thể là người Pháp gốc Angiêri, ăn trộm ô tô, ở Berlin là cô thiếu niên người Thổ Nhĩ Kỳ sinh ra ở Đức, bị bố cấm không cho đi bể bơi với các bạn trai, ở Rotterdam thầy tu già đến từ Yemen kêu gọi chống lại những người vô đạo. Ngoài sự cô lập, họ thường còn có chung cái nghèo đói và thiếu triển vọng xúc tiến. Cuộc tranh luận này không những chỉ về dân di cư mà cả về những người xuất thân từ vị trí kinh tế xã hội thấp nói chung - Christal Morehouse, chuyên gia về di cư thuộc Quỹ Bertelsmann, nói.
Để tranh luận về hiệu suất của quốc gia xã hội thì đã quá muộn. Tổng thống Pháp phô trương tổ chức trục xuất người Rumani, ở Đức đảng liên minh đòi đóng cửa biên giới với người Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ, còn người đứng đầu đảng ủng hộ chính phủ Hà Lan đề nghị cấm kinh Koran. Sau mấy chục năm chấp nhận nhập cư, bắt đầu có sự công khai chống đối những người mới đến. Với tất cả những cuộc di dân lớn thường lặp lại cái chu kỳ như nhau tránh xa, phân biệt chủng tộc, xích mích và cuối cùng là chỗ ở(?) - giáo sư Paul Scheffer, nhà xã hội học, trường Tổng hợp Amsterdam, nói.
Hai giai đoạn đầu châu Âu đã trải qua, hai giai đoạn sau vừa bắt đầu. Hay đa văn hóa đã thất bại? Có thể đồng hóa được một dân tộc ngoại hay không? Và châu Âu có thể hòa bình với Hồi giáo được không?
Không đa, cũng chẳng văn hóa
Trong cái cặp kính gọng sừng và cái áo vét vải tuýt Thilo Sarrazin không có vẻ là kẻ thù số một của xã hội. Đầu tháng chín nhà kinh tế 65 tuổi xuất bản cuốn sách chính trị bán chạy nhất ở Đức từ sau năm 1945. “ Nước Đức tự huỷ” mô tả rằng những người mới đến từ các nước Hồi giáo lấn át người hàng xóm chúng ta bằng sự sinh trưởng lớn hơn, còn độ thông minh thấp kém của họ và lười biếng học hành làm đất nước mang án sụp đổ. „Tôi muốn cháu và chít tôi khoảng 100 năm nữa còn có thể sống được ở Đức. Tôi không muốn đất nước chúng nó phần lớn là Hồi giáo, có những vùng rộng lớn người ta chỉ dùng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hay Ả Rập, chị em phụ nữ thì trùm khăn, còn ngày được phân chia bằng giờ cầu nguyện của những người muezin(?).” – Sarrazin viết.
Cuốn sách 360 trang có thể không bị đả động đến, nếu như tác giả của nó không nằm trong ban quản trị Ngân hàng Trung ương. Các chính trị gia hàng đầu cùng một giọng phản đối Sarrazin. Angela Merkel công bố rằng sẽ không đọc sách ấy và quan niệm xấu nhất về nó. Chủ tịch SPD nói rằng sẽ khai trừ kẻ quá khích ra khỏi đảng. Nhưng cú sốc thật sự thì đến muộn hơn: Người Đức từ cánh tả sang cánh hữu đều hoan nghênh giả thuyết Sarrazin, sách của ông bán hết ngay trên triệu cuốn, vé vào cửa cho buổi tối gặp mặt với tác giả vừa ra là hết ngay. Thậm chí Sarrazin công nhận sự nổi tiếng đột ngột làm ông ái ngại.
20% người Đức sẵn sàng bỏ phiếu cho đảng của ông nếu ông lập đảng mới. Theo điều tra của quỹ Friedrich Ebert từ đầu năm nay, ở Đức phát triển tính bài ngoại và hằn học với Hồi giáo: một phần ba người Đức cảm thấy đất nước của họ đang bị di dân tràn tới, quá một nửa ủng hộ hạn chế quyền của tôn giáo đạo Hồi. Sarrazin chỉ phá vỡ cái rào cản chuẩn mực trong di dân: vừa mới từ chức ở Bundesbank, Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đã mang lời của ông thành khẩu hiệu của mình.Theo làn sóng ấy, đặc biệt Horst Seehofer, chủ tịch đảng bảo thủ cực đoan CSU ở Bawarii, nói: „Nước Đức không phải là nước di dân” – ông thông báo và thêm rằng „Chúng tôi không cần thêm người ngoại quốc từ những nền văn hóa khác”. Ám chỉ Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập.
![]() |
| Một cửa hàng của người Thổ Nhĩ Kỳ tại Đức |
Suốt 20 năm, các chính trị gia nòng cốt nhồi nhét vào đầu dân Đức điều hoàn toàn ngược lại: đất nước cần di dân, và sự cộng sinh nhiều dân tộc, tôn giáo và phong tục sẽ biến nước Đức thành thiên đường đa văn hóa. Giấc mộng đã không thành.
Trong chính trị, đa văn hóa trở thành cái cớ để không thúc đẩy tích cực hội nhập, ở đời thường – để tránh quan hệ với những người mới đến. Dân Đức cho phép lập “những xã hội song song”, bởi họ muốn tiếp tục sống trong xã hội riêng của mình, chăm bẵm “văn hóa Đức đầu đàn”. Trong tháng mười, Angela Merkel tham gia phát biểu về đề tài hội đàm do Sarrazin khởi xướng: “ Ý nghĩ hãy tạo xã hội “đa văn hóa”, chúng ta sẽ sống bên cạnh nhau, cùng vui với nhau hóa ra đã thất bại. Thất bại hoàn toàn!”
Ở nước “bọn ăn thịt lợn”
Đức đang than phiền về dân di cư, ám chỉ Thổ Nhĩ Kỳ. Đó không chỉ là nhóm dân di cư đông nhất (3 triệu trong một nước 82 triệu dân), mà là nhóm khó đồng hóa nhất. Họ sống trong những khu phố Thổ Nhĩ Kỳ, trau dồi phong tục và mô hình xã hội Thổ Nhĩ Kỳ, làm việc trong các công ty người Thổ Nhĩ Kỳ, nhiều người chỉ nói mỗi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ thôi. Họ chỉ kết hôn với nhau trong dân tộc của mình và càng ngày càng nhiều những cô gái đến từ Thổ Nhĩ Kỳ vì mục đích này. Hơn một nửa người Thổ Nhĩ Kỳ ở Đức đẻ ra ở đấy, nhưng hai phần ba mang hộ chiếu Thổ Nhĩ Kỳ. Từ năm 2000 nước Đức mới ban quốc tịch cho tất cả trẻ em sinh ra trên lãnh thổ mình.
Người Thổ Nhĩ Kỳ đã không có cơ hội để hội nhập vì Đức suốt mấy chục năm phủ nhận sự thật là họ có dân di cư. Những người đến từ nước ngoài được gọi là gastarbeiterami (công nhân khách), mà họ tính không có ý định định cư lâu dài ở Đức. Nhà nước suốt 50 năm phát triển kinh tế bằng sức lao động của họ, đồng thời giữ ảo ảnh là không lâu nữa khách sẽ về nhà của họ.
Tuyển dụng hàng loạt kết thúc cùng với cuộc khủng hoảng đầu tiên vào năm 1973 sau chiến tranh, khuyến khích họ về nước. Nhưng người Thổ Nhĩ Kỳ lúc này đã là dân tộc đông nhất trong tất cả gastarbeiterami không muốn về nước. Thay vào đấy họ bắt đầu mang vợ con đến Đức hàng loạt. Xuất khẩu lao động được nhường chỗ cho đoàn tụ gia đình, còn sự mất kiểm soát di dân được che đậy bằng hùng biện “đa văn hóa”.
Sự thất bại đó, Merkel đã có thể thông báo bốn năm về trước, khi bùng nổ xì căng dan ở trường Rütli tại Berlin. Trong thư gửi chính quyền thành phố, các thầy cô giáo yêu cầu can thiệp bởi họ không làm sao giải quyết được vấn đề bạo lực trong giới học sinh. Đánh nhau xảy ra hàng ngày, cũng như dọa dẫm cả thầy cô giáo. Tại trường học nằm trong khu di dân Neukölln đang xảy ra xích mích giữa những thanh niên người Ả Rập (35% học sinh) và người Thổ Nhĩ Kỳ( 25%). Đến mức mà những học sinh người Đức (17%) bị nhóm người đạo Hồi là phần lớn ở đây gọi xếch mé là “bọn ăn thịt lợn”, phải nói ngọng tiếng Đức để không bị lộ diện. Trường học phải đóng cửa, nhưng cơ bản của vấn đề không mất đi: 60% di dân ở Neukölln sống nhờ vào bảo hiểm xã hội, 36% không có việc làm.
Sẽ có nhiều khu phố như thế trong các thành phố của Đức. Theo dẫn dắt của cuộc điều tra năm ngoái tại Viện Dân số và Phát triển ở Berlin, người Thổ Nhĩ Kỳ không những có chỉ số hoà đồng thấp nhất trong giới di dân mà lớp trẻ còn được đào tạo kém nhất và thất nghiệp nhiều nhất. Với sự chuẩn bị như vậy, họ không thể là ưu điểm cho nền kinh tế, mà chỉ là gánh nặng cho hệ thống xã hội. Người Đức dần dần hiểu rằng 50 năm tránh dân di cư và lơ là hoà đồng dẫn đến việc hai bên đều xa lạ lẫn nhau, cũng như sự hình thành những khu nghèo đói và biệt lập. Bây giờ họ lại sợ trên cơ sở ấy sẽ nẩy sinh cực đoan tôn giáo – như ở Mönchengladbach, Salafi tổ chức các buổi cầu nguyện ngoài phố và định mở trường học Hồi giáo.
Nhà máy sản xuất những người Pháp gương mẫu
Eric Besson sinh ra ở Marok. Mẹ ông là người Li Băng, bố, lính phi công người Pháp, hy sinh trong một tai nạn trước khi ông ra đời. Mẹ Eric đi bước nữa với một doanh nghiệp người Ai Cập, cậu con trai tốt nghiệp phổ thông ở Casablanka, đến Pháp năm 17 tuổi. Được học ở trường tốt, ông bắt đầu sự nghiệp chính trị, ba năm trước là ngôi sao đang đi lên của Đảng Xã hội Pháp. Thậm chí ông đã viết bài văn châm biếm châm chọc Nicolasa Sarkozy. Ngay trước khi cuộc bầu cử bắt đầu, Eric cãi nhau cùng cô ứng cử viên phái tả và trước khi bầu cử đợt hai lại bất ngờ ủng hộ Sarkozy. Năm ngoái, ông trở thành bộ trưởng bộ di dân, hội nhập và sắc thái dân tộc trong chính phủ phái hữu.
Việc thành lập bộ năm 2007 đã gây nên sự phản đối – nhập bộ phận di dân với sắc thái dân tộc giống như trò chơi công khai về tính bài ngoại của Pháp. Bộ trưởng đầu tiên Brice Hortefeux khởi đầu một cách tốt đẹp, trục xuất 20 nghìn di dân sống bất hợp pháp, cân nhắc trước áp dụng thử nghiệm quan hệ cha con đối với những di dân hợp pháp đang muốn mang con vào Pháp.
Người kế ông, Besson còn đặt ra điều hay hơn: khả năng tước quốc tịch di dân nào trong vòng 10 năm kể từ khi được ban nếu tấn công cảnh sát. Nhà cựu xã hội thú nhận cách đây không lâu là rất đỗi hạnh phúc nếu bộ của ông trở thành “máy sản xuất người Pháp gương mẫu”. Chính bộ trưởng cũng tự tiến hành – ở độ tuổi 52 kết hôn với cô vợ 24 tuổi người Tunisia.
Cái gọi là “luật Besson” là bộ luật thứ năm về di dân được phê duyệt từ khi Sarkozy lên chức bộ trưởng Bộ Nội vụ năm 2002. Ngày nay ít ai còn nhớ đến, nhưng một trong những bước đầu tiên ông thực hiện là huỷ bỏ trại tập trung ở Sangatte. Từ trại này dân di cư bất hợp pháp trốn vào đường hầm dưới Channel Tunnel rồi từ đấy chạy sang Vương quốc Anh. Sarkozy không phải thiếu nguyên cớ để biến cuộc chiến đấu với di cư làm mục tiêu hàng đầu của mình – nửa năm trước người đứng đầu phái hữu cực đoan Jean-Marie Le Pen đã lọt vào vòng hai tranh cử tổng thống với số phiếu ủng hộ 17%. Ông nhanh chóng hiểu rằng những lá phiếu chống di cư không chỉ là mối de dọa cho phái trung hữu mà còn là cơ hội để mở rộng cở sở bầu cử. Để dành lấy chúng, ông dần dần thắt chặt luật di cư.
Khác với ở Đức, ở Pháp đe dọa người nước ngoài đã có truyền thống từ lâu. Bắt đầu từ Le Pen từ những năm 70 (thế kỷ XX), thậm chí phái xã hội cũng không từ hùng biện chống dân di cư - François Mitterrand nổi tiếng với câu khẳng định “chấp thuận có giới hạn của nó”. Năm 1993 bộ trưởng Bộ Nội vụ Charles Pasqua điều hành với phương ngôn “không di cư” - mở đầu cuộc chiến với sans-papiers, những người bất hợp pháp. Được Sarkozy nắm bắt lấy mười năm sau và bao trùm lên các tội phạm chưa thành niên tại các vùng di dân ngoại ô. Cũng chính ông năm 2005 đã công bố “phải làm sạch bọn chúng khỏi Kärcherem”, làm sôi sục không khí trước sự bùng nổ các cuộc bạo động sau này. Chiến đấu với “bọn mọi rợ” mở đường cho ông đến Dinh Elysee.
Wawrzyniec Smoczynski „Polityka.pl, (Hoàng Bích lược dịch)
