Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Hôn nhân cận huyết: Suy giảm giống nòi

12/09/2009 10 phút đọc Huyền Trang ghi Quang Duy
Bản sắc văn hoá Việt Nam có được sự giàu có, phong phú một phần là nhờ đóng góp của các dân tộc thiểu số anh em.
Hôn nhân cận huyết: Suy giảm giống nòi
Bản sắc văn hoá Việt Nam có được sự giàu có, phong phú một phần là nhờ đóng góp của các dân tộc thiểu số anh em. Tuy nhiên, nhiều chủ nhân của các giá trị văn hoá riêng ấy - một số dân tộc ít người và rất ít người lại đang đứng trước nguy cơ suy thoái giống nòi trước sự ảnh hưởng của tập tục lạc hậu lâu đời của mình, nhất là trong hôn nhân.

Trẻ em vùng cao.
 Lần đầu tiên, đề án can thiệp nhằm giảm hôn nhân cận huyết thống và tảo hôn được Tổng cục Dân số triển khai ở một số dân tộc thiểu số phía Bắc và Tây Nguyên, nhằm nâng cao chất lượng dân số, tránh cho những cộng đồng ít người này khỏi nguy cơ suy thoái.
 
Cứu "làng" Brâu

Hơn 15 năm trước, người Brâu đã chuyển từ cuộc sống du canh, du cư dọc theo những con suối dọc biên giới Việt - Lào định cư tại thôn Đắc Mế, xã Bờ Y, Ngọc Hồi, Kon Tum. Nhưng để tiến đến một cuộc sống có chất lượng, dân trí cao, dân tộc thiểu số được coi như đang đứng trước nguy cơ suy thoái này còn có những chặng đường dài và khó khăn phải vượt qua.

Ốm yếu và đói nghèo

Với tổng số dân hiện khoảng 420 người, Brâu là một trong 9 dân tộc rất ít người ở nước ta. Đây cũng là một trong những dân tộc dưới 1.000 dân được coi là có nguy cơ suy giảm mà nguyên nhân chủ yếu là có quan hệ hôn nhân cận huyết thống, chất lượng dân số thấp, sức khoẻ yếu và bệnh tật nhiều.

Hai mẹ con Nàng La và Thao Ca.
Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm từ vùng Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Từ năm 1992 - 1993, theo chính sách của Đảng và nhà nước, người Brâu về lập làng nghiệp ở Đắc Mế, hoà nhập với cuộc sống đô thị kề bên cửa khẩu Bờ Y. Hơn 100 nóc nhà mái bằng trong làng Brâu được nhà nước xây dựng, được cấp điện, con em được khuyến khích đi học.

Nhưng cuộc sống từ thói quen vốn chỉ dựa vào núi rừng hoang dã để săn bắn hái lượm xuống nhập trạch vùng "đồng bằng" chẳng hề dễ dàng. Có gia đình giờ đã có xe máy dùng để làm rẫy, đi nương,... nhưng họ vẫn giữ tập tục truyền thống lấy vợ/chồng là anh chị em họ.

Năm năm trước, Nàng La và Thao Tô là anh em con chú con bác. Nhưng giờ đây, họ là một gia đình với thành viên thứ 3 là bé Thao Ca 4 tuổi.  Theo tập tục của người Brâu, dù có họ trong 3 đời, nhưng họ "ưng" nhau nên cha mẹ hai bên đồng ý cho làm lễ cưới. Đáng lẽ họ phải cúng gà, rượu để "xoá" họ hàng, nhưng nghèo quá nên cũng chưa rửa được tập tục.

Trong làng, gần nhà Nàng La còn có cặp vợ chồng Nàng Dương và Thao Piên, Nàng Dem và Thao Sóc cũng là anh em họ lấy nhau. Ngay bố mẹ  Nàng La cũng là một đôi như thế. Nàng La lý giải với chúng tôi về tập tục của dân tộc mình: "Nếu lấy người khác thì của cải bị chia sẻ, còn lấy người trong họ, cùng dòng máu, chung ông bà thì không mất đi đâu cả". Theo thống kê, 51% hộ gia đình Brâu thuộc đối tượng nghèo!

Thao Tô chỉ học hết lớp 3, còn Nàng La không biết chữ. Cuộc sống gia đình ngoài những khó khăn về kinh tế, còn có nỗi lo về sức khoẻ mà Nàng La chưa lường trước được. Cứ khi thời tiết chuyển lạnh thì bàn chân Nàng La lại lạnh ngắt, tím tái đến chết ngất. Nàng La đã mấy lần đi bệnh viện khám, bác sĩ vẫn chưa tìm ra bệnh. Thao Ca cũng bị bệnh giống mẹ, nên cả hai vợ chồng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, chưa biết lớn lên thêm bệnh sẽ tiến triển sao nữa. Đẻ thêm đứa nữa thì họ chưa muốn, vì biết lấy gì mà nuôi.

Theo y sĩ Thao Then, mỗi năm cộng đồng người Brâu chỉ có thêm nhiều nhất là 10 người, có thời gian thì 3 năm mới thêm được từng ấy. Cùng với cộng đồng người Rơ Man (huyện Sa Thầy), người Brâu thuộc diện dân tộc ít người có nguy cơ suy giảm được phép sinh con thứ 3 trở lên là không vi phạm. Nhưng như anh Thao Then lý giải, cuộc sống kinh tế khó khăn, khiến họ cũng không muốn đẻ. Vòng tròn luẩn quẩn nghèo, bệnh tật chưa kết thúc.
 

Mù chữ và tái mù chữ

Mỗi khi trời rét, bệnh của Nàng La lại tái phát.

Theo anh A Phúc - Chủ tịch xã Bờ Y, dân trí ở Đắc Mế đang là vấn đề nan giải hàng đầu. Trong thôn chưa có ai tốt nghiệp cấp III. Duy nhất có 2 người đạt được trình độ lớp 8-9 là 2 chị em Nàng Ly Thanh và Nàng Ly Thiệp. Hai người là con cán bộ hưu trí từng tham gia cách mạng, theo gia đình thoát ly ra huyện Đắc Tô và học tại đó.

Khi người Brâu từ núi xuống làng định cư, hai cô theo mẹ là bà Y Ban - nay là trưởng ban công tác mặt trận thôn về Đắc Mế. Ngoài Ly Thanh và Ly Thiệp, anh Thao Then cho biết, hầu như các em học sinh chỉ học đến lớp 5-6 là đã nghỉ.

Anh A Phúc - chủ tịch xã Bờ Y - kể, chuyện đào tạo nguồn ở Đắc Mế là chuyện thật bế tắc.  Là người có trình độ nhất, mấy năm trước hai chị em Ly Thanh và Ly Thiệp đương nhiên lọt vào danh sách đào tạo nguồn với dự kiến đưa đi học để làm y tế thôn bản. Nhưng cả 2 đều lắc đầu, không muốn phấn đấu. Năm nay xã đưa 6 em về tỉnh học để tạo nguồn cán bộ về sau thì 1 em nữ đã xin về lấy chồng và một em khác cũng sắp! Trước đó, năm 1992-1993, có 7 em học đến cấp II được gửi lên huyện học nội trú thì tất cả đều bỏ sau 1-2 năm học.

Tỉ lệ mù chữ, tái mù chữ, thất học ở người Brâu là 69%. Theo thông tin vừa được Bộ Giáo dục - Đào tạo công bố tại cuộc hội thảo "Phát triển giáo dục đào tạo các dân tộc ít người" cuối tháng 7 vừa qua, cùng với một số dân tộc rất ít người khác như Cơ Lao, Bố Y, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu..., Brâu được đánh giá vẫn ở tình trạng đói nghèo, lạc hậu, không tự phát triển được và đang có nguy cơ suy giảm về mọi mặt.

Sau gần 20 năm liền kề với cuộc sống đô thị, nhưng dường như người Brâu vẫn chưa bắt kịp được cuộc sống mới. Cũng đã 5 năm, dự án "Hỗ trợ, phát triển dân tộc Brâu" 2005 - 2010 với đầu tư 6 tỉ đồng được phê duyệt, nhằm đầu tư toàn diện từ sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng đến bảo tồn văn hoá, được thực hiện.

Nhưng làng Brâu vẫn cần sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn, không chỉ từ phía kinh tế mà cả dân số - giáo dục mới có thể thoát khỏi nguy cơ suy thoái cả về thể chất lẫn tinh thần, giúp họ tìm được cho mình một cuộc sống mới thực sự.
 

Ý kiến
Khó như "dời non, lấp biển" Theo phong tục của người M'nông, Ê Đê thì con cô, con cậu được phép lấy nhau. Thậm chí con trai của cậu lấy con gái của cô được coi là điều tốt. Người cô có con gái, khi gả đi, trước hết phải gả cho con cậu. Mặt khác, theo tập quán mẫu hệ, các em gái ở tuổi 15-16 đã có thể chọn chồng.

Họ thường căn cứ vào hình dáng bề ngoài, sức khoẻ của cô gái ở độ tuổi dậy thì hay chín muồi chưa, có đủ sức khoẻ và khả năng làm vợ, làm mẹ trong tương lai, chứ không căn cứ vào tuổi tác. Nếu quá độ tuổi theo tập quán này thì sẽ khó lấy chồng, thậm chí "ế". Vì vậy, tình trạng tảo hôn vẫn xảy ra ở các buôn làng, việc thay đổi phong tục này chẳng khác gì "dời non, lấp biển".
Chị H'Lê Niê - (cán bộ Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình Đắc Lắc)

 

Coi chừng hết dự án, đâu lại vào đó!

Tại khu vực các huyện phía Tây tỉnh Cao Bằng, sau cưới tảo hôn, cô dâu về nhà chồng ngay. Chính vì vậy, thường có con sớm, những đứa trẻ sinh ra từ những cặp vợ chồng tảo hôn thường nhỏ bé, còi cọc. Ngược lại, các huyện miền Đông của tỉnh, người Tày và Nùng, sau cưới người vợ vẫn ở nhà mẹ đẻ, khi nào có việc nhà chồng đón sang nhà giúp việc vài việc rồi lại về. Chỉ khi nào người vợ có thai mới được đón về nhà chồng chính thức, do đó nhiều cặp 5-10 năm sau cưới, người vợ vẫn ở nhà mẹ đẻ.

Cũng nhiều trường hợp, sau khi trưởng thành thoát ly khỏi quê hương, gặp được người yêu thương nhưng không vượt qua được rào cản vì đã có vợ/chồng cưới tảo hôn ở quê. Dân tộc Dao nam giới thường "cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy", tảo hôn khi mới 11-13 tuổi với cô dâu hơn vài tuổi. Vì thế đã có những chuyện đau lòng là khi một đứa bé sinh ra, người ta không biết đó là con của người chồng hay của người ông!

Trong số các cặp tân lang - tân nương năm 2008 thì có tới 6% cặp tảo hôn. Hai huyện Nguyên Bình và Bảo Lạc có tới 30% hộ gia đình có người tảo hôn. Năm 2003- 2005, khi tỉnh Cao Bằng triển khai dự án can thiệp giảm tảo hôn tại 6-9 xã, đã có sự thay đổi đáng kể về nhận thức và kết hôn đối với các gia đình ở địa bàn dự án, giảm tỉ lệ cặp tảo hôn và kết hôn cận huyết. Nhưng khi dự án kết thúc từ năm 2005 đến nay, tập tục tảo hôn và kết hôn cận huyết có xu hướng tăng trở lại.
BS Hoàng Bá Thước (Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ Cao Bằng)
Huyền Trang ghi

 
Quang Duy (Lao động)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu