Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Mở bể than 210 tỷ tấn: Sụt lún và quan ngại của SHE

14/09/2009 6 phút đọc Trần Huy Ánh
Nhân đọc bài “Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện” trên Tuần Việt Nam hôm 14/9, độc giả Trần
Mở bể than 210 tỷ tấn: Sụt lún và quan ngại của SHE
Nhân đọc bài “Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện” trên Tuần Việt Nam hôm 14/9, độc giả Trần Huy Ánh có vài lời bàn thêm với TS  Nguyễn Thành Sơn.
Sụt lún và mối quan ngại của SHE
 

SHE – tên viết tắt Công ty Năng lượng Sông Hồng- chi nhánh của TKV tại Hưng Yên do TS Nguyễn Thành Sơn viết trong bài “Mở bể than 210 tỷ tấn: Trao đổi lại với giới phản biện” có cho biết là mối quan ngại của SHE về chuyện sụt lún khi khai thác bể than. Để khắc phục mối lo ngại này, theo chúng tôi hiểu cách diễn giải của TS thì SHE đề xuất bù một cách đơn giản nhất là bù bằng cát.

 

Trong bài cũng cho biết là các vỉa than có độ sâu từ 150 đến hàng ngàn mét. Như vậy chúng tôi hiểu một cách giản đơn là muốn có 210 tỷ tấn than là phải lôi ra khỏi lòng đất 210 tỷ m3 than và sẽ có ngần ấy cát sẽ được chui vào đó. Tất nhiên là cát tại chỗ chứ không ai lấy cát biển Đông mà bù vào.

Vì theo TS giải thích: ”Chẳng lẽ ở ĐBSH đất cát lại ít hơn than. Đơn giản về mặt kỹ thuật, khi lấy ra 1 tấn than, nếu phải chèn lò để chống lún sụt trên mặt đất, chúng ta chỉ cần đưa vào khoảng 1m3 cát để lấp chỗ trống; còn về mặt kinh tế, 1 tấn than có giá trị và giá trị sử dụng cao hơn nhiều so với cát…”.

Ảnh minh họa (vietnamep)

So sánh một cách nôm na là 420 km đê sông Hồng đắp từ năm 1915 đến 1927 có hơn 110 triệu m3. Từ năm 1954 đến 1980 phong trào đắp đê rầm rộ thế mà Hà Nội ta đắp thêm có 10 triệu m3. Số cát bù vào sẽ gấp 1.750 lần khối lượng đắp đê của hàng triệu người mấy chục năm.

 

Thủ đô Hà Nội mở rộng có diện tích 3.300 triệu m2 (nhỏ hơn với diện tích bể than 3.500 triệu m2). Khối lượng bù là cát, nước hay phù sa sẽ là diện tích Hà Nội đắp cao lên 63 m. Rất có thể tôi tính nhầm, mong được TS Trần Thành Sơn làm rõ hơn.

 

Nếu như cách dẫn giải của tôi đúng thì dự án không tính chuyện di dân, thì dân sẽ sinh sống ra sao khi dưới chân mình là hang động mênh mông không biết đặc rỗng thế nào. Việc khai thác tầng sâu như vậy là mực nước ngầm tự nhiên hạ theo mà chẳng cần biết đến cái lý thuyết áp lực mỏ hay dịch động rối rắm khó hiểu TS nêu ra, đơn giản là “nước chảy chỗ trũng” vậy thôi…

 

Đất sụt lún khi khai thác bể than này ra sao chưa ai dám chắc. Nước ngầm (thường để khai thác nước ăn) không còn thì dân không đi chỗ khác ở mới là chuyện khó giải thích .

 

Nhân lực cho công nghệ khai thác mới

 

Theo TS cho biết: Và trong đề án của mình, TKV đã giới thiệu sơ bộ lý thuyết về quản lý dịch động. Về vấn đề này, chỉ những người có đủ trình độ ngoại ngữ mới có đủ thông tin và hiểu được.

 

Thực ra, đây là “sân chơi” của các chuyên gia về khai thác than, chứ không phải của các nhà địa chất. Như vậy, theo chúng tôi hiểu là chuyên ngành phức tạp và không nhiều người biết. Một rủi ro lớn, xảy ra trên diện rộng, ảnh hưởng tới nhiều người và theo cảnh báo có tác động lâu dài…Vậy mà ít người biết về nó thì số người có khả năng khắc phục có lẽ còn ít hơn .

 

Theo TS, nước ta có bao nhiêu người có được trình độ cần thiết? Họ được đào tạo ở đâu? Ai có khả năng đánh giá khả năng hiểu biết của họ. Và nếu dự án TKV đề xuất đi vào hoạt động thì cần bao nhiêu người, đào tạo trong bao lâu thì đủ?.

 

Cũng mong TS cho biết thêm, những người vừa giỏi ngoại ngữ lại am hiểu quản lý dịch động nước ta có thảo luận trên internet không, có đăng bài trên các tạp chí quốc tế không. Vì thực tế chỉ mới có vài công trình ngầm, hố đào có vài m mà báo đài cho biết sụt lún thường xuyên. Tìm chuyên gia thiết kế thi công công trình ngầm của 2 thành phố lớn hiện tại cũng không dễ.

 

Đánh giá môi trường chiến lược

 

Ảnh minh họa farm4

Theo TS Nguyễn Thành Sơn: Đề án đã được Chính phủ giao Bộ Công Thương tổ chức thẩm định theo đúng các thủ tục và trình tự hiện hành. Cùng với việc thẩm định chính xác và khách quan của Bộ Công Thương về Đề án.

 

Tuy vậy theo báo chí cho biết: Bộ Xây dựng cũng cho rằng, TKV phải tính được đến yếu tố tác động của xu hướng biến đổi khí hậu toàn cầu... Phản biện của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam cho rằng đề án khai thác than ĐBSH "sơ sài, trùng lặp, thiếu cơ sở", thiếu báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.

 

Theo Luật Bảo vệ môi trường (2005) được Quốc họp khóa XI , kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, quy định bắt buộc phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (gọi tắt là DMC) từ 1/1/2006 đối với các chiến lược, quy hoạch và quy hoạch phát triển.

 

Như vậy là có nội dung chưa thống nhất giữa thông tin của TS và báo chí. Vậy TS cho biết có bản DMC chưa? Nội dung của nó ra sao và tốt nhất là công bố trên Web site của SHE để đông đảo các giới tham khảo và đóng góp cho dự án .

 

Cũng theo TS Sơn, kế hoạch TKV đã giao và SHE đang thực hiện soạn thảo một bộ tài liệu hỏi-đáp về những vấn đề liên quan, nhằm tiến tới tổ chức hội thảo rộng rãi về việc phát triển Bể than ĐBSH.

 

Nếu có trong phần hỏi đáp nên có biểu đồ so sánh công suất khai thác than của TKV 20 năm trở lại đây. Mức đóng góp của ngành than vào ngân sách nhà nước. Những biện pháp nâng cao sản lượng giảm chi phí khai thác, khắc phục ô nhiễm môi trường. Dự báo nhu cầu thị trường than thế giới, khi các nền kinh tế lớn đang lập chiến lược năng lượng thay thế hóa thạch. Và ngành than sẽ có chiến lược năng lượng Xanh cho đất nước như thế nào?

Trần Huy Ánh (tuanvietnam)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu