| |
Nhiều TCty hiệu quả thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả chung (ảnh minh hoạ).
|
Cần phải nhấn mạnh rằng: Vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước nói chung và ở các TĐ, TCT nói riêng là bộ phận chủ lực, cấu thành và không thể tách rời của tổng nguồn lực quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc huy động sức mạnh tổng thể và chủ đạo của kinh tế nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nền kinh tế.
Thế nhưng, qua giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội từ năm 1996 đến năm 1998, bức tranh về đầu tư, sử dụng tiền nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh... không mấy sáng sủa.
Thành tích của lợi thế
Tại phiên thảo luận, các ĐB khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của khối DN nhà nước mà nòng cốt và các TĐ, TCT đã đóng góp gần 40% giá trị GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế XNK). Bên cạnh đó, ĐB Đỗ Mạnh Hùng và nhiều ĐB khác còn chỉ ra thêm một lợi thế nữa mà lâu nay các TĐ, TCT nhà nước đang được "hưởng", đó là lợi thế niềm tin xã hội (yếu tố này trong báo cáo giám sát trình bày tại QH chưa đề cập đến). Đầu tư vào lĩnh vực tài chính: Hầu hết bị lỗ
Với kết quả đáng khích lệ này, ý kiến chung của ĐBQH cho là xuất phát từ lợi thế vượt trội, hơn hẳn của TĐ, TCT (tổng nguồn vốn của TĐ, TCT là 1 triệu 241 nghìn tỉ đồng) so với DN ngoài quốc doanh và DN FDI; diện tích đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng trong hoạt động đầu tư (theo báo cáo của 88 TĐ, TCT tính đến ngày 31.12.2008 quỹ đất đất được giao, cho thuê, quản lý, sử dụng là 365 nghìn 818ha); yếu tố cạnh tranh có rất nhiều lợi thế, thậm chí còn tồn tại nhân tố độc quyền doanh nghiệp tại một số TĐ, TCT.

Đại biểu QH tỉnh Bình Định Nguyễn Đăng Vang phát biểu ý kiến.
Ngay tại phiên thảo luận, phóng viên Báo Lao Động đã điện thoại trao đổi với một số chuyên gia kinh tế: Niềm tin xã hội đặt vào TĐ, TCT nhà nước ảnh hưởng thế nào tới thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán... thời gian qua? Câu trả lời chung là: "Niềm tin xã hội" ấy là một trong số căn nguyên tạo ra những cơn sốt và sự đảo chiều không đáng có, thường xuất hiện ở những thị trường... chưa minh bạch.
Hiệu suất đầu tư (lợi nhuận trên vốn đầu tư) tính gộp chung của 47 TĐ, TCT, năm 2006 là 7,41%; năm 2007 là 9,24%; năm 2008 là 4,78%, nhìn chung là thấp hơn so với đầu tư vào ngành kinh doanh chính của các đơn vị này.
Năm 2008, khi thị trường chứng khoán VN suy giảm mạnh, các quỹ đầu tư đều có giá trị tài sản ròng giảm phổ biến từ 40-60%, các loại chứng khoán và các khoản đầu tư góp vốn trong danh mục đầu tư của một số đơn vị bị ảnh hưởng, phải thực hiện đánh giá lại và trích lập dự phòng rủi ro. Hầu hết các TĐ,TCT bị lỗ hoặc không phát sinh lợi nhuận trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán và góp vốn vào quỹ đầu tư.
Ví dụ: Tính đến 31.12.2008, tổng mức đầu tư của Tập đoàn Điện lực vào lĩnh vực chứng khoán là 214 tỉ đồng; các tập đoàn góp vốn vào quỹ đầu tư là Tập đoàn Dầu khí đầu tư 368,9 tỉ đồng; Tập đoàn CN caosu đầu tư 271 tỉ đồng, Tập đoàn CN Tàu thủy đầu tư 144 tỉ đồng năm 2008 đều không phát sinh lợi nhuận.
Hình ảnh lợi nhuận âm
Theo các ý kiến đánh giá tại QH, 25,2% số đơn vị có mức lợi nhuận âm hoặc dưới 5%; và 47,2% số đơn vị báo cáo có mức lợi nhuận dưới 10%. Qua đó cho thấy một tỉ lệ không nhỏ (45,05%) các TĐ, TCT nhà nước hoạt động hiệu quả thấp (tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%), làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của khu vực kinh tế nhà nước.
Báo cáo giám sát trình bày tại QH chỉ ra: Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của các TCT thuộc nhóm nông nghiệp giảm mạnh, từ 12,8% năm 2006 xuống còn 4,25% năm 2008.
Năm 2006 có 7 đơn vị kinh doanh thua lỗ, lợi nhuận sau thuế âm với tổng số tiền là 126 tỉ đồng; năm 2007 có 5 đơn vị kinh doanh thua lỗ với tổng số tiền là 263 tỉ đồng; năm 2008 có 3 đơn vị kinh doanh thua lỗ với tổng số tiền là 55 tỉ đồng và tính đến cuối năm 2008 vẫn còn 23 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng số tiền là 2 nghìn 797 tỉ đồng.
Một số TCT hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt khó khăn, không khắc phục triệt để và dứt điểm được tình trạng lỗ lũy kế từ các năm trước, tiếp tục để phát sinh lỗ, khả năng thanh toán hạn chế, vốn nhà nước mất hết phải làm thủ tục phá sản.
Theo đánh giá của UB Kinh tế của QH, nếu phân tích một cách chi tiết, bóc tách và so sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp ngoài nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước nói chung, tại các TĐ, TCT nói riêng còn thấp, chưa tương xứng với quy mô, nguồn lực tài chính của nhà nước, vị trí và vai trò trong nền kinh tế.