Hơn một tiếng đối thoại trực tuyến về chủ đề: Điện hạt nhân và những câu hỏi, các vị khách mời đã cùng nhau phối hợp, tung hứng, làm rõ bức tranh về viễn cảnh điện hạt nhân với những suy nghĩ của người trong cuộc lo cho dự án này, giải đáp băn khoăn của nhiều người xung quanh đề án phát triển 2 nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam.
Cần thì quá cần, nhưng...
Lí giải nguyên nhân cần có điện hạt nhân ở Việt Nam, ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng, Bộ Công thương cho hay, "cho đến giờ phút này, lí do duy nhất là để đảm bảo đủ nguồn cung cho yêu cầu điện năng của cả nước".
Việt Nam đang là nước xuất khẩu năng lượng, thế nhưng 7-10 năm tới, với tốc độ phát triển hiện nay, Việt Nam sẽ không có đủ nguồn cung cấp điện tại chỗ. Vì thế, Việt Nam sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng, từ năm 2013-2014 trở đi.
Điện hạt nhân là một trong những phương án nhập khẩu năng lượng và được ông Hường đánh giá là tương đối khả thi so với các dạng năng lượng khác.
"Theo tính toán, nó hoàn toàn cạnh tranh được với các dạng năng lượng khác như nhập dầu, than về đốt, nhập điện từ các nước láng giềng nhưng xa xôi và đắt đỏ".
Việc đưa điện hạt nhân vào dựa trên cân bằng cung cấp năng lựong nhưng phải nhìn trên tầm dài, vào năm 2050-2100, ông Lê Văn Hồng, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam tiếp lời.
Chúng ta đã tính tất cả các nguồn bổ sung: nhập điện, nhập than, và năng lượng tái tạo nhưng vẫn chưa đủ. Trong khi đó nguồn điện hạt nhân to lớn và ổn định. Điện hạt nhân sẽ là nguồn năng lượng lâu dài, bền vững.
Ảnh: Lê Anh Dũng |
Đại diện cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nhà cung cấp điện cho cả nước, đồng thời là đơn vị được Chính phủ chỉ định là chủ đầu tư cho dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, nếu được Quốc hội thông qua về chủ trương, Phó TGĐ Dương Quang Thành làm rõ thêm, thực chất, dự báo về yêu cầu năng lượng cũng như cân đối nguồn cung đã tính đến các dạng năng lượng khác, không chỉ tập trung vào điện hạt nhân. Ví dụ, đến năm 2020, ta đưa cân đối 1000 MG năng lượng tái tạo và thủy điện nhỏ, tương đương với sản lượng điện mà nhà máy điện hạt nhân đầu tiên có thể cung cấp.
"Ta đã sử dụng tương đối so với tiềm năng, nhưng vẫn không đủ năng lượng, nên phải bổ sung năng lượng điện hạt nhân", ông Thành cho hay.
"Cũng không thể nói như một số người là tiết kiệm năng lượng có thể thay cho xây dựng mới. Đó là hai việc độc lập, phải vận hành đồng thời", ông Hường nói.
Tiềm năng để tiết kiệm năng lượng, tránh lãng phí còn rất lớn, nhưng giảm thất thoát được 1-2% là quý lắm rồi. Vì lí do kĩ thuật, sự thất thoát không tránh được, ta buộc phải chấp nhận nó.
"Năng lực tài chính, hiệu quả công nghệ của Việt Nam chưa thay được", ông Thành nói.
Ông Thành cho hay, trong tính toán cân đối nhu cầu năng lượng, EVN đã tính chuyện đưa vào thiết bị tiết kiệm điện rồi. Hệ số đàn hồi tăng trưởng điện so với mức tăng GDP đã điều chỉnh xuống còn 1,1-1,4 cho năm 2020, không phải là 2-2,5 như hiện nay, ở mức tương đương với các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới.
Hơn nữa, khi làm điện hạt nhân, Việt Nam đã nghiên cứu kinh nghiệm và tác động điện hạt nhân ở các nước, và thấy rõ: điện hạt nhân như động lực phát triển kinh tế - xã hội của các nước, là động lực thúc đẩy CN phụ trợ phát triển: cơ khí, vật liệu, điện tử... và đưa điện hạt nhân thúc đẩy phát triển KHCN trong đó có KHCN hạt nhân, ông Hồng cho hay.
Bên cạnh việc chuẩn bị đề án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam cũng đã và đang xây dựng nền tảng, cơ sở hạ tầng cho ngành này bao gồm cơ sở pháp lý, chuyên môn kĩ thuật, nguồn nhân lực, ông Hồng cho hay.
Chính phủ đã thông qua một chiến lược tổng thể về phát triển điện hạt nhân vì mục đích hòa bình với 23 đề án, trong đó 10 đề án trực tiếp liên quan đến điện hạt nhân, với sự tham gia của nhiều bộ ngành.
Chúng ta đang triển khai đồng bộ nhiều việc song hành, ông Hồng cho hay. Ông trấn an "điện hạt nhân là việc quốc gia, không riêng gì của Bộ Công thương. Không nên có tâm lí quá lo lắng, chỉ là những việc kia ít được đề cập đến".
Ông Thành tiếp lời "việc chuẩn bị một lúc cho 4 tổ máy, EVN đã chuẩn bị từ lâu, cả con người cũng như kĩ thuật, tài chính. Nhu cầu điện, cân đối vốn được đưa vào tổng sơ đồ 6.
Xây dựng điện hạt nhân không ngoài kế hoạch phát triển điện của quốc gia, đã được cân đối vào nhu cầu và cân đối vốn. EVN sẽ tiển khai từng bước công việc.
"Đây là việc có kế hoạch từ trước, không phải chúng tôi muốn làm rồi nghĩ ra mà làm", ông Thành khẳng định.
Ông Hường cho hay "năm 2020 được xem là cột mốc phấn đấu để đưa nhà máy vào hoạt động. Hiện nay, công việc chuẩn bị đã đưa lịch trình chặt chẽ, khít khao, phải phấn đấu cao, quyết tâm mới đạt mục tiêu".
Có để nợ nần lại cho con cháu?
Tin tưởng "có thể làm được", thế nhưng, ông Hường cũng khẳng định, xây dựng nhà máy điện hạt nhân "không dễ".

Cái thuận lợi là Việt Nam không phải nước đi đầu tiên, không phải là người đi khám phá mày mò, do đó, được sự giúp đỡ lớn của nước làm rồi, vì thế Việt Nam không lo về trình độ, lại chịu sự kiểm soát của UB NLNT thế giới.
Nhưng dù sao, đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam làm. Ta phải lo từ đào tạo nhân sự, rèn luyện đội ngũ, lựa chọn công nghệ, đặc biệt là tài chính.
"Giống như thủy điện, đầu tư ban đầu cho một nhà máy điện hạt nhân rất lớn, sau đó khi vận hành thì rẻ hơn nhiều, do đó, thách thức lớn là vốn", ông Hường cho hay.
Lựa chọn cung cấp thiết bị là nước có thể giúp Việt Nam dàn xếp vốn.
Nguồn vốn con người, bao gồm cả chuyên gia kĩ thuật cao và lao động thông thường có kĩ thuật và kỉ luật cũng là điều nhà báo Phạm Anh Tuấn nêu ra cho các vị khách mời.
Ông Hồng thừa nhận, công việc quan trọng trước mắt làm ngay là đào tạo cán bộ tham gia quản lí, thực hiện dự án, làm quen và vận hành nhà máy sau này.
"Đây là công nghệ cao, phức tạp. Các nước trong giai đoạn đầu thường có sự giúp đỡ của nước cung cấp thiết bị cho mình, Việt Nam cũng vậy. Ta bước đầu tiếp thu, sau hấp thụ, làm chủ và phát triển lên, không nhảy vội được".
Phụ thuộc bên ngoài, liệu có tự chủ về năng lượng?
Nhà báo Phạm Anh Tuấn đặt câu hỏi, trong điều kiện đó, liệu Việt Nam có đứng trước nguy cơ tiềm ẩn phụ thuộc vào bên ngoài?
Cho rằng đó là mối lo chính đáng nhưng ông Hường quả quyết, không cần lo đến mức đó.
"Chúng ta cũng từng làm nhiều công nghệ mới, như turbin khí trước đây, nhiều người lo không làm được. Đến khi nhập công nghệ rồi, ta vận hành ngon lành, bây giờ còn sửa chữa được. Khi làm lọc dầu, công nghệ hoá dầu cũng là công nghệ cao so với chúng ta. Chúng ta làm và sẽ học, kết hợp với sự hỗ trợ của nhà đầu tư.
Ông Hồng cho hay, Việt Nam đã có chuẩn bị về nhân lực rồi, không phải bây giờ trình dự án lên Quốc hội rồi mới bàn đào tạo như thế nào.
Việt Nam đang phối hợp, hợp tác với Pháp, Nhật, Nga, Trung Quốc cử cán bộ đi đào tạo. (Hiện nay, 25 sinh viên đã được cử sang đào tạo điện hạt nhân tại Nga. Lần đầu tiên 5 sinh viên cũng được cử đi Pháp đào tạo về điện hạt nhân, theo hợp tác EVN với tập đoàn của Pháp. EVN cũng cử cán bộ đang làm dự án điện của EVN sang Pháp học, thực tập tại các nhà máy điện hạt nhân của Pháp hiện nay cũng như đang xây dựng...)
Đến năm 2012, các cán bộ điện hạt nhân đi đào tạo về, cùng chuyên gia nước ngoài xây dựng đề án, chuẩn bị thực hiện.
Ông Thành cũng trấn an, không cần lo lắng về kỉ luật lao động trong nhà máy điện hạt nhân. "Họ lao động, điều hành trong công nghệ tiên tiến, buộc có tác phong công nghiệp tiên tiến".
Hiện EVN cũng có một số nhà máy điều khiển tự động. Cán bộ công nhân có hiểu biết về công nghệ, kỉ luật, không điều hành lung tung được. Từ những con người này, EVN tiếp tục đào tạo lên đáp ứng yêu cầu của điện hạt nhân.
"Khó nhất là chuyên gia trình độ cao: hiểu tường tận quá trình vật lí xảy ra trong lò phản ứng, nhà máy điện. Hiện tượng dù nhỏ, bất thường, chuyên gia đủ hiểu, phân tích nguyên nhân, và đề ra giải pháp khắc phục. Đội ngũ này phải đào tạo lâu 7-10 năm.
Nếu bắt đầu triển khai ngay từ năm sau, đến 2020, cùng cán bộ đã có của ta, dù tuổi cao, với đội ngũ 10 năm nữa trở về, Việt Nam sẽ có đội ngũ nhất định dù không nhiều, hiểu quá trình vật lí, đẻ giai đoạn đầu cùng chuyên gia nước ngoài nghiên cứu và ra quyết định.

Đây là vấn đề khó về lâu dài, phải nghĩ ngay bây giờ, nếu không sẽ không kịp.
Chọn đối tác dựa vào quan hệ tốt đẹp lâu dài
Liên quan đến lựa chọn công nghệ, ông Hường cho hay, Việt Nam vẫn "đang tính". Công nghệ thế hệ càng cao càng phức tạp, hiệu quả kéo theo là đắt lên. Trên thế giới, hàng trăm lò vận hành cả trăm năm, đa phần thế hệ 2 trở xuống.
"Làm thế nào thì làm, phải đảm bảo tính an toàn gần như tuyệt đối", ông Hường nói.
Theo ông, "chúng ta không nên đi đầu trong chọn thế hệ mới làm gì. Vấn đề là xem thế hệ đó đã tiên tiến chưa, kiểm chứng an toàn chưa. Nếu kiểm chứng rồi, an toàn thì nên chọn, nhất là trong điều kiện Việt Nam không thể đầu tư với bất cứ giá nào... Ta chọn ở mức hợp lý, không phải đời công nghệ cao nhất thì chọn.
Trước ý kiến băn khoăn của người dân về việc có hay không khả năng lựa chọn công nghệ Trung Quốc, ông Hường cho hay, Trung Quốc chưa có công nghệ riêng. Họ có xây dựng, thiết bị của họ, trên cơ sở bản quyền nước ngoài.
Vừa qua họ chỉ đến trao đổi kinh nghiệm, đề nghị tham gia chọn địa điểm, thiết lập văn bản pháp quy... Hai bên chỉ thảo luận hợp tác trong việc xây dựng đề án và triển khai nhà máy điện hạt nhân, không bàn về vấn đề cốt lõi là thiết bị, công nghệ.
"Với nước có kinh nghiệm mới như thế trong lĩnh vực điện hạt nhân, Bộ Công thương chưa có bất cứ đàm đạo chính thức về hợp tác công nghệ với Trung Quốc", ông Hường cho hay.
Việc bàn chọn đối tác nào vào thời điểm này, khi Quôc hội chưa thông qua về chủ trương là hơi sớm, nhưng cũng phải bắt đầu suy nghĩ.
Theo ông Hường, lựa chọn đối tác nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả chính trị, xã hội, kinh tế lẫn quan hệ ngoại giao giữa các nước.
"Điện hạt nhân không phải dự án 1-2 năm, mà là chương trình dài hơi, cả trăm năm, phải chọn đối tác có quan hệ tốt đẹp lâu dài", ông Hường nói.
Phương Loan (lược thuật) Tuần Việt Nam
