Điều tra của ISDS cho thấy: Cứ 15 người đi lao động xuất khẩu thì có 1 người ra đi với lý do chính nhằm trang trải nợ nần cho gia đình. Điều này cho thấy một thực tế rằng di cư lao động quốc tế không chỉ là một chiến lược giúp mang lại thu nhập cao hơn, mà còn là một chiến lược giúp giải quyết các món nợ mà họ khó có thể trang trải được với mức thu nhập tại quê nhà.
"Do kinh tế khó khăn quá nên tôi đã đề nghị với gia đình được đi làm việc ở nước ngoài. Hai vợ chồng cùng thống nhất để tôi đi, vì tôi có sức khỏe hơn, mong muốn cuộc sống sẽ khấm khá hơn", chị Na, 36 tuổi, ở tỉnh Hà Tây cũ, tâm sự.
Chỉ 1/3 số lao động trả được hết nợ nần
Theo khảo sát, sau khi đi xuất khẩu lao động, rất nhiều người lại gánh thêm các khoản nợ từ chuyến xuất ngoại của mình. Cụ thể: Trong tổng số 603 người được hỏi, chỉ có 1/3 trả lời rằng họ đã trả được hết các khoản nợ nần khi về nước hẳn. Theo khảo sát, thời gian trung bình để người lao động trả hết nợ là 18 tháng. Hơn 3/4 số lao động trở về dưới 12 tháng chưa trả được nợ. Thế nhưng, bất chấp logic này, tỷ lệ người trở về mà vẫn mắc nợ khá cao, chiếm đến 59% người lao động đi làm ở nước ngoài từ 1-2 năm và 32% người đi làm từ 2- 3 năm.
Cũng theo một báo cáo về di cư ở khu vực châu Á Thái Bình Dương gần đây của UNDP, những khó khăn mà người lao động Việt Nam ở nước ngoài gặp phải là do những chi phí trước khi lên đường là rất cao. Anh Tùng, ở tỉnh Hà Tây cũ, cho hay: "Tôi đã liên hệ với một người môi giới ở huyện để được đi làm việc ở nước ngoài. Chi phí giấy tờ, thị thực, môi giới và các khoản khác hết 4.700 USD. Thêm vào đó, người môi giời thường xuyên yêu cầu tôi trả thêm các khoản phí phát sinh mà không bao giờ có hóa đơn hay biên nhận. Họ còn bắt tôi ký hợp đồng mà tôi không được biết nội dung, chỉ biết rằng tôi sẽ được nhận mức lương tháng là 570 USD và được bao tiền ăn. Nhưng vài giờ trước khi khởi hành, người trung gian đưa cho tôi bản hợp đồng cuối cùng, mà có các điều kiện kém hơn. Nhưng tôi vẫn phải ký vào vì vẫn muốn đi".
Chung hoàn cảnh, nhiều người tham gia khảo sát cho biết, họ phải ký hai hoặc ba bản hợp đồng trong suốt khoảng thời gian trước khi lên đường. Người lao động ký một hợp đồng ngay khi họ được tuyển. Sau đó một vài ngày hoặc một vài giờ trước khi lên máy bay, đại lý tuyển dụng yêu cầu họ ký một bản hợp đồng khác, một số người gọi bản hợp đồng này là "hợp đồng tại sân bay", thường có các điều khoản không giống với hợp đồng ban đầu. Có một số điều khoản bị chỉnh sửa, ví dụ như mức lương thấp hơn. Người lao động cảm thấy mình trở thành nạn nhân của sự lừa đảo, nhưng họ không thể quay về nữa vì đã phải vay mượn những khoản tiền lớn cho các khoản chi phí trước khi đi.
![]() |
| Chỉ có 1/3 người VN đi XK lao động trả được hết nợ khi về nước. Ảnh minh họa |
Đối với chị Nguyện (44 tuổi), cũng ở tỉnh Hà Tây, tình hình còn bi đát hơn. Mặc dù nhà nghèo và đông con, chị vẫn quyết tâm chạy vạy được 14 triệu đồng để sang Đài Loan làm giúp việc. Khoản phí này đóng cho công ty môi giới ở Hà Nội, gồm: chi phí đào tạo, làm thị thực, kiểm tra sức khỏe và đi lại. Ngoài ra, chị còn mất thêm 2 triệu đồng cho người môi giới. Chị đã phải thế chấp nhà để vay tiền ngân hàng. Sang Đài Loan, chị làm giúp việc cho một cặp vợ chồng già. Sau 4,5 tháng, một công ty tuyển dụng đột ngột đến bắt chị ký vào 2 văn bản bằng tiếng Trung mà chị không hiểu, rồi bị bắt về nước giữa đêm mà không một lời giải thích. Chị chỉ được trả 8 triệu đồng cho hơn 4 tháng làm việc, nửa còn lại được thông báo đã trả tiền taxi và vé máy bay. Về nước, chị Nguyện đến gặp công ty môi giới nhưng họ từ chối hỗ trợ vì chị không có bằng chứng gì. Đến nay, chị Nguyện vẫn chưa trả hết nổi khoản tiền trước khi đi. Cuộc hôn nhân của chị cũng gặp rắc rối vì thất bại của "giấc mơ đổi đời" này.
Nhiều người bị đối xử bất công
Theo báo cáo mới công bố của ISDS, khoảng 70% lao động VN xuất khẩu bị chủ lao động hoặc người môi giới tịch thu hộ chiếu. Gần 1/3 người bị dọa đuổi hoặc đưa về Việt Nam sớm, cấm không được rời khỏi nơi làm việc bất cứ lúc nào, hoặc bị khấu trừ những tiết kiệm bắt buộc từ tiền lương. Hơn 20% bị dọa trừ lương hoặc đe dọa cắt giảm lương do nghỉ ốm. Trên 15% bị cấm không được sử dụng điện thoại. Về tai nạn lao động, có đến 16% người trả lời từng bị tai nạn. Hầu hết những người bị tai nạn là nam giới (82%), làm việc tại Hàn Quốc (34%), Malaysia (38%), tại nhà máy (60%). Chỉ có 20% trong số những người bị tai nạn được nhận bồi thường bằng hình thức nào đó.
Chị Nguyện cho biết, khi sang Đài Loan, người ta không cho tôi liên lạc với ai, vì họ sợ mình trốn ra ngoài. Bà cụ thuê tôi không cho tôi ra đường. Chỉ khi nào đưa ông cụ đến bệnh viện, tôi mới nhờ các chị em cùng là người Việt Nam gọi điện về gia đình. Anh Toàn, quê ở Hà Tĩnh nói: Chúng tôi được học tiếng Anh, nhưng chủ là người Tàu nên họ nói chẳng hiểu gì cả. Đáng ra họ phải chỉ bảo cho mình làm, nhưng họ không hướng dẫn, mà chỉ chửi, mắng, đánh đập. Đội chúng tôi có 15 người đều bị thế cả. Anh Tiệm, quê Hà Tây sang Malaysia làm việc, cũng không ngờ điều kiện lại khắc khổ đến thế: "Tôi đi làm 10 tiếng họ chỉ tính có 9 tiếng. Chủ nhật làm cũng không có tiền làm thêm, trong khi ký hợp đồng là có. Thậm chí, lương chúng tôi so với hợp đồng gấp đôi. Chúng tôi đình công không làm chủ nhật thì họ bắt nhịn ăn và dọa đuổi về".
Người lao động Việt Nam còn bị phân biệt đối xử. Anh Tùng ở Hà Tây, làm công nhân cho một nhà máy ở Đài Loan cho biết, nếu người Đài Loan có cùng tay nghề như tôi thì mỗi ngày được trả 2.500 tiền Đài. Họ đi làm từ 8h sáng và 5h nghỉ. Nhưng lao động người Việt phải dạy từ 6h, chiều làm thêm nhưng lương chỉ bằng 1/2 của người bản xứ. Khi gặp các tình huống mà quyền lợi của mình bị vi phạm, rất nhiều người lao động đã do dự và không có bất kỳ hành động phản kháng nào vì sợ bị đuổi việc và sợ bị trả về nước. Có đến 22% trong số những người được hỏi có liên hệ với người khác khi họ gặp vấn đề với chủ lao động. Gần 10% liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam, 6% tìm tới những người trung gian hoặc các đại lý tuyển dụng. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp đã trở về cho biết, mọi vấn đề họ gặp phải chỉ được giải quyết một phần hoặc hoàn toàn không được giải quyết. Chưa kể, nhiều người lao động xuất khẩu trở về còn ngần ngại khi chia sẻ những câu chuyện về sự thất bại của họ (quay về sớm hơn dự tính, thu nhập thấp, điều kiện làm việc bị bóc lột)...
Giải pháp thế nào?
Khuyến cáo để bảo vệ lợi ích của người lao động đi xuất khẩu, ông Sinapan Samydorai, Nhà sáng lập Tổ chức Đặc nhiệm của ASEAN về lao động di cư nhấn mạnh, Chính phủ Việt Nam cần tham gia mạnh mẽ hơn vào việc đóng góp ý kiến cho khung pháp lý bảo vệ người lao động của ASEAN - đang được soạn thảo, bởi khung pháp lý của VN mới chỉ bảo vệ được người lao động khi họ ở trong nước. Bên cạnh đó, VN cũng cần làm việc với các nước tiếp nhận lao động chặt chẽ hơn về các điều khoản trong hợp đồng. Theo đó, người lao động sẽ không bị lừa đảo, sẽ được làm việc và nhận quyền lợi đúng như những gì hợp đồng nêu ra, cả về quyền lợi kinh tế và nhân quyền. Đồng thời, các cơ quan ngoại giao của VN phải đóng vai trò quan trọng hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động ở nước sở tại.
Ông Lê Bạch Dương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, nêu lên 6 khuyến nghị, nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động VN xuất khẩu. Đó là khâu tuyển dụng cần được giám sát chặt chẽ hơn; Khâu đào tạo trước khi đưa lao động lên đường cần được cải thiện vì còn sơ sài, cả về luật pháp VN và luật pháp nước tiếp nhận; Những người lao động đã trở về vẫn còn nhu cầu được đi xuất khẩu, do họ còn nợ nần hoặc không có cơ hội khác ở VN; Nhà nước cần khai thác những lợi thế của các Tổ chức NGO, vì họ có tiếng nói và kỹ năng giúp đỡ người lao động đi xuất khẩu ở nước ngoài; VN cần có sự hợp tác của các NGO trong khu vực và cuối cùng, VN cần gia tăng sự tham gia hoạt động của ASEAN và các diễn đàn quốc tế về lao động xuất khẩu.
| Nghiên cứu Lao động di cư từ VN đến các nước châu Á 2000 - 2009: Quá trình, Trải nghiệm và Tác động của ISDS, được khảo sát trên địa bàn 3 tỉnh Hà Tĩnh, Thái Bình và Hà Tây (cũ), với 646 người từng đi XK lao động từ những năm 2004 và 619 hộ gia đình có người đang làm việc ở nước ngoài. Nơi làm việc chính của họ là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và Malaysia. |
