Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Buôn bán động vật hoang dã: Lợi nhuận lớn, xử phạt nhẹ

28/03/2010 8 phút đọc Huyền Anh
Ngày nay, việc buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã quý hiếm ngày càng gia tăng và đang trở thành vấn nạn ở các
Buôn bán động vật hoang dã: Lợi nhuận lớn, xử phạt nhẹ
Ngày nay, việc buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã quý hiếm ngày càng gia tăng và đang trở thành vấn nạn ở các nước đang phát triển. Việt Nam, trong 10 năm trở lại đây, cũng trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới buôn bán trái phép động vật hoang dã (ĐVHD) của Châu Á.

Các loài động vật hoang dã đang dần bị tuyệt chủng ở Việt Nam.

 

Nguyên do là hoạt động này mang lại lợi nhuận cao, chỉ đứng sau buôn bán ma tuý và vũ khí. Tại Việt Nam, số lượng các vụ buôn bán ĐVHD ngày càng tăng, tập trung vào một số loại động vật quý hiếm. Có một số nguyên nhân chính dẫn đến hiện trạng trên.

Món nhậu thể hiện đẳng cấp

Mặc dù luật pháp nghiêm cấm các hành vi quảng cáo, buôn bán, tiêu dùng ĐVHD, song trên thực tế, tình trạng này vẫn tiếp diễn và công khai, đặc biệt tại các nhà hàng.

Theo TS. Scott Roberton - Giám đốc Hiệp hội Bảo tồn ĐVHD (Wildlife Conservation Society - WCS), trong một điều tra nhỏ của tổ chức này tại hơn 200 nhà hàng ở miền Trung cho thấy thực khách đến đó tiêu thụ hơn 2 triệu kilôgram ĐVHD/năm. Tính sơ sơ cả nước có khoảng 3.000 nhà hàng bán ĐVHD, thì suy từ điều tra đơn giản này ra, đã khoảng 41,5 tấn ĐVHD đi vào dạ dày của thực khách mỗi ngày và sẽ là 15.100 tấn/ năm.

Sở dĩ, thịt ĐVHD ngày càng lên bàn nhậu nhiều vì người dân Việt Nam quan niệm “có tiền thì phải hưởng thụ”, “càng hoang dã càng thích”, “ăn gì (của thú quý hiếm) bổ nấy” chứ hành động này không bị coi là vấn đề đạo đức như phương Tây. Do đó, đã gọi là nhà hàng đặc sản, bao giờ thực đơn cũng có danh mục ĐVHD. Những ĐVHD được sử dụng nhiều nhất là hươu, nai và lợn rừng; đứng thứ hai là rùa, ba ba, rắn; thứ ba là cầy, chồn, nhím.

Điều đáng buồn nhất, đối tượng “đánh chén” ĐVHD lại là những người có tiền, có trình độ học vấn. Khảo sát của TRAFFIC (Mạng lưới Giám sát buôn bán động thực vật hoang dã toàn cầu), trong 3 nghìn người dân Hà Nội được hỏi thì đến 47% thừa nhận đã từng sử dụng các sản phẩm từ ĐVHD. Trong đó, 50% người dùng sản phẩm ĐVHD để tăng cường sức khoẻ; 43% sử dụng thịt ĐVHD là doanh nhân, 34% thuộc nhóm cán bộ, công chức.

Và thậm chí, bây giờ, “thượng đế” không cần đến tận nhà hàng mới thưởng thức được ĐVHD, mà có thể đặt hàng qua mạng, gọi điện thoại sẽ được phục vụ tại nhà, hay tự ra một số chợ xách về như chợ biên giới Tịnh Biên (An Giang), Công viên Bách Thảo (Hà Nội, bị dẹp chưa lâu), chợ rắn Phụng Hiệp (Hậu Giang),...

Ngoài lý do cầu cao, nguồn cung - các nhà hàng - ngày càng phát triển vì lợi nhuận mang lại từ các món ăn đặc sản cũng vô cùng hấp dẫn. Cũng theo nghiên cứu trên tại miền Trung về giá bán ĐVHD, chủ bán buôn kiếm được nhiều lợi nhuận nhất so với các thành phần khác trong mạng lưới buôn bán ĐVHD từ thợ săn đến người tiêu thụ cuối cùng. Lái buôn bán thịt ĐVHD cho nhà hàng với giá cao gấp 2,4 lần so với giá mua từ thợ săn. Giá bán của nhà hàng cho khách ăn cao gấp 1,2 lần so với giá mua từ lái buôn.

Bên cạnh đó, trước kia, sản phẩm từ ĐVHD như mật gấu, cao hổ cốt, cao khỉ, sừng tê giác,... được dùng làm vị trong thuốc Đông y, chủ yếu xuất sang Trung Quốc, thì nay người Việt cũng dùng các loại sản phẩm này. Nhiều người còn biết việc sử dụng này vi phạm pháp luật, song “thập toàn đại bổ”, “có bệnh thì vái tứ phương” nên vẫn cố công săn tìm.

Các sản phẩm quý hiếm như ngà voi, đầu bò tót, da hổ,... còn được dùng làm đồ trang trí trong nhà của những người giàu, hay là công cụ để biếu xén, hối lộ.

“Ở Việt Nam, buôn bán ĐVHD có thể nói là 50% ở trong nước, còn lại chủ yếu xuất sang Trung Quốc và các nước Châu Á khác” - một điều phối viên của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên khẳng định.

Việt Nam được coi là một cửa ngõ buôn lậu tê tê sang Trung Quốc. Những con tê tê tịch thu được ở Việt Nam thường bắt nguồn từ Lào hay Campuchia, thậm chí từ những nước xa hơn như Malaysia, Myanmar và Indonesia.  Ảnh: ENV

Còn theo ông Nguyễn Việt Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên: “Đây là vấn đề đáng lo ngại. Với tình trạng săn bắn, giết mổ, sử dụng ĐVHD ngày càng tràn lan, nhiều loài sẽ đi tới tuyệt chủng, đa dạng sinh học bị ảnh hưởng rất nhiều, hệ sinh thái bị phá vỡ”.

Lợi nhuận càng lớn, xuất lậu càng nhiều

Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, mỗi năm, các cơ quan chức năng bắt, xử lý khoảng 1.300 vụ vi phạm bảo vệ ĐVHD.

Từ dữ liệu các vụ tịch thu, giấy phép vận chuyển và kết quả điều tra khảo sát cho thấy, các thương lái ĐVHD của ta thu mua, tìm kiếm nguồn hàng từ các quốc gia Châu Á khác cũng như từ chính các cánh rừng trong nước để đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ chính của các lái buôn ta. Các loài bị bán qua biên giới rất đa dạng, bao gồm cả mẫu vật còn sống hoặc đã chết, các bộ phận cơ thể con vật và dẫn xuất. Những nhóm loài chính bị buôn bán là bò sát, linh trưởng, thú ăn thịt, móng guốc và chim.

Thống kê từ Cục Cảnh sát Môi trường - Bộ Công an cho thấy, thị trường mỗi năm tiêu thụ 3.400 tấn thịt ĐVHD, trong đó 45-50% tiêu thụ trong nước, chủ yếu ở Hà Nội và TPHCM, số còn lại xuất khẩu bất hợp pháp qua biên giới.

Còn theo Interpol Việt Nam, ước tính lượng cầu hàng năm về động, thực vật hoang dã cho mục đích ẩm thực, dược liệu, sinh vật cảnh và xuất khẩu dao động trong khoảng từ 3.700-4.500 tấn. Đó là chưa kể đến hàng chục vạn cá thể các loài chim, côn trùng không thể tính toán thành trọng lượng được.

ĐVHD trước khi lên bàn nhậu.  Ảnh: WCS


Năm 2008, cả nước phát hiện 15 vụ buôn bán trái phép ĐVHD, trong đó có lô hàng tổng trị giá khoảng 70 nghìn USD.

Từ năm 2004 đến nay, lực lượng hải quan đã bắt giữ 12 vụ với 150 mẫu vật tê giác. Chỉ riêng hai chiếc sừng tê giác tịch thu được đã trị giá 3 tỉ đồng.

Với loài tê tê, điển hình là vụ phát hiện 24 tấn tê tê đông lạnh và 920kg vảy tê tê tạm nhập từ Indonesia để tái xuất đi Trung Quốc vào ngày 27.2.2008. Giá 1kg tê tê hiện gần 2 triệu đồng. Ngoài ra, tê tê cung cấp da cho ngành thời trang và vảy dùng làm thành phần trong các loại thuốc truyền thống của Trung Quốc, nên giá càng cao.

Về buôn bán hổ, từ năm 2005 đến nay, cơ quan chức năng đã tịch thu được 29 con hổ hoặc các bộ phận của hổ (không gồm tiêu bản để trang trí như đầu, móng vuốt, răng và da). Giá cao hổ pha với xương của những loài ĐVHD khác dao động từ 7-17 triệu đồng/ lạng (giá năm 2009).

Tháng 1.2009, hơn 6.000kg ngà voi được chuyển từ Tanzania đến Malaysia, qua nước ta và bị Hải quan Hải Phòng Bắt giữ. Được biết, giá trị ngà voi thô ở Tanzania - nước xuất lậu nhiều ngà voi nhất thế giới - là 15USD/ kg. Khi trung chuyển qua một số nước khác và Việt Nam, đến quốc gia tiêu thụ, giá ngà voi thô đã lên đến 850USD/ kg. Ngà voi đã qua chế biến hoặc được chạm khắc, giá tiêu thụ tại Nhật Bản sẽ là 7 nghìn USD/ kg.

Một vài ví dụ trên đã cho thấy lợi nhuận từ buôn bán ĐVHD thật “siêu khủng”. Ước tính, doanh thu từ việc buôn bán động, thực vật hoang dã trên thế giới hàng năm đạt khoảng 10 tỉ USD. Nước ta đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới buôn bán trái phép DVHD của Châu Á.

Do vậy, bọn buôn bán ĐVHD không từ thủ đoạn nào, kể cả liều mạng, để thực hiện trót lọt các phi vụ. Chúng buôn bán ĐVHD trên tất cả các tuyến đường sắt, hàng không, đường biển, đường thuỷ, đường bộ với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các cơ quan chức năng Việt Nam mới chỉ phát hiện, xử lý được 20% số vụ buôn bán ĐVHD. Như vậy, đó mới chỉ là “một phần nhỏ trong cả tảng băng” - Crawford Allen thuộc Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) nói.

 

Huyền Anh (Lao Động Cuối tuần)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu