Sau 10 năm được Quốc hội thông qua, có thể nói đến nay Pháp lệnh Thủ đô hầu như chưa tạo được tác động đáng kể nào tới sự phát triển của Hà Nội.
Tôi lo ngại điều này dường như lặp lại ở Dự thảo Luật Thủ đô mà các cơ quan chuyên môn đang xây dựng.
Nguyên do, cũng như ở Pháp lệnh Thủ đô, Dự thảo này không tạo được cơ chế đặc biệt (như phát hành trái phiếu đô thị, ngân hàng đô thị, quỹ đầu tư đô thị...) hay đưa ra một “quyền đặc thù” cho sự phát triển của Thủ đô. Ngay cả việc “đại sự” như xác định mô hình phát triển, Hà Nội vẫn đang lúng túng.
Trong Dự thảo Luật Thủ đô, việc xác định mô hình phát triển chỉ được nêu một cách chung chung như “xây dựng thủ đô văn minh, hiện đại, phát triển bền vững, trở thành đầu não chính trị - hành chính quốc gia...”. Chưa xác định mô hình phát triển một cách cụ thể, chúng ta không thể đề ra được các mục tiêu xây dựng cũng như phương thức quản lý.

Mô hình phát triển TP Hà Nội vẫn chưa được xác định cụ thể. Ảnh minh họa: Trung Kiên
Khác với rất nhiều thủ đô của các nước khác mà quy hoạch đã được định hình từ cả trăm năm trước, Hà Nội vẫn đang trong quá trình đô thị hóa.
Điều đó có nghĩa, trong một khoảng thời gian dài nữa, thành phố vẫn sẽ phải đối mặt với các vấn đề “nóng” như: dân số tăng nhanh, cơ cấu dân cư biến động mạnh, đất canh tác biến thành đất phi nông nghiệp, tình trạng khan hiếm đất xây dựng, giá đất tăng, nạn đầu cơ nhà đất đang tăng nhanh...
Tuy nhiên, Dự thảo Luật Thủ đô chưa được xây dựng trên cơ sở của tình trạng này.
Vị trí của “công dân Thủ đô” trong Dự luật khá mờ nhạt. Nếu chỉ nói phát triển và bảo vệ Thủ đô là “quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân Thủ đô” thì rõ ràng vai trò là chủ thể xây dựng Thủ đô chưa được thể hiện đầy đủ.