Luật Thủ đô dự thảo, phạm vi điều chỉnh lại vượt ra khỏi Hà Nội…Thậm chí quy định tới cả trách nhiệm công dân toàn quốc phải xây dựng Thủ đô mà không chú ý đến trách nhiệm của họ đối với điạ phương họ.
Giả sử mục tiêu được chọn lựa trong Luật Thủ đô là đúng, thì văn bản luật dự thảo để thực hiện mục tiêu đó rất nhiều vấn đề cần bàn về mặt pháp lý. 34 điều khoản Dự thảo lần 4 bao trùm hầu hết các mối quan hệ cần điều chỉnh của một bản hiến pháp đặc khu, hay "tiểu bang" trong thể chế "liên bang", chỉ còn thiếu các tiêu chí về quyền cơ bản công dân và phân cấp, phân nhiệm bộ máy chính quyền thành phố.
Phạm vi điều chỉnh vượt ra khỏi Hà Nội?
Có thể so sánh với Bản Hiến pháp 11 chương, 101 điều của Tiểu bang Thủ đô Berlin. Nhưng Việt Nam không phải một nhà nước liên bang, và Hà Nội cũng không phải một đặc khu, mà bình đẳng về mặt chính quyền như bất cứ tỉnh thành trực thuộc trung ương nào khác. Vì vậy, nguyên lý hợp hiến đòi hỏi phải sửa đổi Hiến pháp, bổ sung điều khoản cho phép ban hành luật dành riêng cho Hà Nội.
Mặt khác, tuy tiêu chí điều chỉnh có thể so sánh với Hiến pháp tiểu bang, nhưng nội dung điều chỉnh, các quy phạm đưa ra theo từng tiêu chí lại không mấy giống. Hiến pháp tiểu bang hay đặc khu chỉ có hiệu lực trong tiểu bang, đặc khu đó, điều chỉnh mọi quyền và trách nhiệm trong phạm vi tiểu bang, không liên quan gì đến tiểu bang khác hay liên bang.
![]() |
| Ảnh: VnE |
Trong khi đó, Luật Thủ đô dự thảo, phạm vi điều chỉnh lại vượt ra khỏi Hà Nội, tập trung quy định chức năng nhiệm vụ, trách nhiệm của bộ máy nhà nước trung ương đối với Thủ đô, phân biệt với các tỉnh thành cùng cấp bậc hành chính, họ không được thụ hưởng quyền đó. Thậm chí quy định tới cả trách nhiệm công dân toàn quốc phải xây dựng Thủ đô mà không chú ý đến trách nhiệm của họ đối với điạ phương họ.
Một Dự luật phân biệt như vậy, ở một số nước, trong thể chế liên bang đều phải qua rào cản Thượng Viện, cơ quan lập pháp tập hợp đại diện các tiểu bang, để thương thảo, nhưng nước ta lại thiếu cơ chế tương đương để lấy ý kiến các tỉnh thành.
Đi vào từng điều khoản, trước hết cần đối chiếu với Điều 10, Luật về văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương sắp ban hành, quy định: Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay.
Trong trường hợp cần quy định chi tiết bằng văn bản dưới nó, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan ban hành, nội dung, phạm vi của văn bản cần ban hành. Đây là một quy phạm pháp luật thông lệ trên thế giới, xuất phát từ nguyên lý, luật điều chỉnh hành vi, đưa ra những quy tắc xử sự, những chuẩn mực có thể đo lường, được bảo đảm bằng chế tài, cả nhà nứơc lẫn công dân đều bình đẳng ngang nhau, nên phải được thi hành trực tiếp, không cần diễn giải qua cơ quan nhà nước, ngoại trừ họ được ủy quyền.
Điều khoản trên đặt dấu chấm hết cho vấn nạn pháp lý ở ta bức xúc lâu nay: Văn bản lập pháp, vừa không có giá trị, cho dù có hiệu lực, một khi văn bản lập quy hướng dẫn chưa ban hành; vừa không được thực thi theo quy phạm chuẩn mực nó đưa ra mà phải theo văn bản lập quy, được diễn dịch từ văn bản lập pháp bởi cơ quan thi hành, nói cách khác phụ thuộc người hành xử, hay còn gọi luật hoá cơ chế xin cho.
34 điều Luật Thủ đô dự thảo, theo quy định tại Điều 10 nói trên, phải có tới chừng một nửa cần văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành, nhưng hoặc không được xác định, hoặc hiện chưa có văn bản đó, nên không thể đánh giá. Đặc biệt điều 23, Quản lý dân cư, thay vì dự thảo lần 3, điều 29 quy định, công dân muốn thường trú phải có 5 năm tạm trú, bị dư luận phản đối, thì dự thảo lần 4 lại giao cho Chính quyền Thủ đô (hoặc Chính phủ) quy định.
Còn quy định như thế nào lại phải chờ văn bản. Cần phải khẳng định rằng, rào cản hành chính về cấp phép hộ khẩu chỉ ngăn cản được nhập khẩu Hà Nội trên giấy tờ, chứ không cấm được họ lưu trú. Trên thực tế không ngăn cản được vấn nạn chuyển dịch cơ học dân số, mà chỉ tạo ra 2 hạng công dân lưu trú ở Hà Nội: Hạng hộ khẩu thường trú được hưởng chế độ phúc lợi xã hội, còn hạng tạm trú bị gạt ra rìa xã hội - vốn là những người tha hương kiếm sống đã bần cùng càng bần cùng hơn, ngược với chủ trương Dự thảo đặt ra cho Hà Nội- giầu đẹp, văn minh, hiện đại, tiêu biểu cho cả nước.
![]() |
Ảnh: tvad.com.vn
Pháp luật không thể vừa đúng vừa sai (!)
Nhiều quy phạm sử dụng những khái niệm không thể định lượng với ngôn ngữ của một nghị quyết Đại hội, được lặp đi lặp lại, trong nhiều điều khoản, điển hình như: Ưu tiên, ưu đãi (6 lần), phù hợp, hợp lý, đồng bộ (12 lần). Đó là những chuẩn mực không thể chế tài, chưa kể bất khả thi như: Vững chắc, tuyệt đối an toàn, lẽ ra không nên có trong một văn bản luật.
Điều 8, Áp dụng luật, quy định: Nếu có sự khác nhau giữa luật này với luật khác thì áp dụng luật này, luật ban hành sau luật này thuận lợi hơn thì áp dụng luật đó, là vi phạm nguyên lý Bài trung- pháp luật hoặc đúng hoặc sai, chứ không thể vừa đúng vừa sai, nói cách khác không được để tồn tại 2 luật khác nhau.
Chính vì vậy, bất cứ luật nào ra đời cũng đều hoặc phải ghi rõ hủy bỏ những điều khoản nào của luật hiện hành nào khác nó, hoặc phải tự hủy bỏ những điều khoản dự thảo mâu thuẫn với chúng. Nhiều văn bản luật mới các nước tân tiến, dài 1 trang thì cũng mất 1 trang, thậm chí còn dài hơn, ghi nội dung điều chỉnh các luật khác, có điều khoản chỉ sửa mỗi một từ.
Nói đến quy tắc xử sự, chuẩn mực trong luật pháp là nói đến hành vi. Pháp luật không thể điều chỉnh được ý thức vốn nằm trong đầu, hay văn hoá biểu hiện ở cách giao tiếp xử sự trong quan hệ cá nhân, hoặc tình cảm nằm trong tim. Chính vì vậy, ngoài tuân thủ pháp luật con người còn phải sống theo đạo lý, văn hoá, tình yêu...
Nhưng như điều 32, mục 1, quy định: Hoạt động sinh sống trên điạ bàn Thủ đô có trách nhiệm... nghiêm chỉnh chấp hành quy định của luật này. Nghiêm chỉnh thuộc về ý thức không thuộc về hành vi. Còn quy định nào họ vi phạm thì đã có chế tài, bất luận họ có hay vô ý thức.
Điều 10, mục 3, quy định Chính quyền Thủ đô chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành các quy định về chuẩn mực văn hoá, nếp sống văn hóa trong giao tiếp, ứng xử, hoạt động của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Thủ đô. Điều khoản này, cần một nghị quyết hay thông tư liên tịch giữa các cơ quan trên, đưa ra một bản danh mục các hành vi cần có và cấm trong giao tiếp, ứng xử, hoạt động, được coi là chuẩn mực văn hoá.
Nếu quy định như thế này, liệu có bao quát hết văn hoá con người vô cùng vô tận, luôn thay đổi phát triển, lại mang đặc trưng cho từng cá thể, già trẻ, nam nữ, tôn giáo, ý thức hệ khác nhau, chưa nói thời đại đa văn hoá, bao người Việt mang cả văn hoá nước ngoài? Chuẩn mực pháp luật không thể không chế tài, vậy áp dụng những hình phạt nào cho những mức độ vi phạm nào, nhất là đối với tệ nạn xã hội, mù chữ, thiểu năng, người nước ngoài không hiếm ở Hà Nội?
Sự kiện gắn biển Gia đình văn hoá khiến dư luận Hà Nội vừa qua bức xúc là một thực tế cho thấy hành chính hoá văn hoá hậu hoạ như thế nào, (cho dù với động cơ tốt), điều khoản này còn đi xa hơn, pháp chế hoá văn hoá !
Tác giả: TS Nguyễn Sỹ Phương (CHLB Đức)Tuần Việt Nam

