Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Nợ cũ chưa trả, đòi vay nợ mới

22/04/2010 5 phút đọc Trương Tâm Thư
Làm thuỷ điện ở Quảng Nam: Chủ đầu tư quá vụ lợi 58 dự án thuỷ điện triển khai trên vùng rừng núi đầu nguồn
Nợ cũ chưa trả, đòi vay nợ mới
Làm thuỷ điện ở Quảng Nam: Chủ đầu tư quá vụ lợi

58 dự án thuỷ điện triển khai trên vùng rừng núi đầu nguồn tỉnh Quảng Nam đã phát sinh nhiều hệ lụy môi trường và đời sống đối với người dân nhường đất cho công trình.
 

Dự án thuỷ điện A Vương tạo ra 13km dòng sông chết. Ảnh: T.T.Thư

 

Hàng chục ngàn hécta đất rừng tự nhiên bị mất do thuỷ điện, hàng ngàn người dân sống bấp bênh cũng do thuỷ điện, nhưng cách giải quyết của các nhà đầu tư thuỷ điện là chỉ biết đến lợi ích kinh tế của riêng mình.

 

Đòi phá rừng làm rẫy

DATĐ Sông Tranh 2 do Ban QLDATĐ 3 (thuộc EVN) làm chủ đầu tư, triển khai tại 2 huyện Nam Trà My, Bắc Trà My từ năm 2006, dự kiến hoàn thành cuối năm nay. Riêng công tác đền bù, tái định cư (TĐC) tại huyện Bắc Trà My, theo ông Trần Văn Hải - Trưởng ban QLDATĐ 3 - thì đến nay chủ đầu tư đã thực hiện khoảng 70% khối lượng. Còn một số tồn tại liên quan đến việc cấp đất sản xuất cho dân, các khoản hỗ trợ bổ sung, thiếu sót...

Để giải quyết tồn tại về đất sản xuất cho người dân ở các khu TĐC, Ban QLDATĐ 3 vừa kiến nghị UBND tỉnh cùng các sở ngành liên quan “hỗ trợ phối hợp cùng Ban QLDATĐ 3 lập hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng (tính trung bình 1,8ha/1 hộ x 413 hộ) chung quanh khu vực TĐC, tạo quỹ đất, giao cho chính quyền địa phương cấp cho dân TĐC tự khai hoang sản xuất đảm bảo cuộc sống lâu dài”.

Thực chất của đề nghị này là đòi phá bỏ 745ha rừng tự nhiên, phòng hộ để đem làm rẫy. Diện tích rừng trên hiện đang do Ban QL rừng phòng hộ Sông Tranh quản lý, bảo vệ.

Trước đề nghị “động trời” này, UBND tỉnh đã phải cẩn thận yêu cầu GĐ Sở NNPTNT và các sở ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh giải quyết, báo cáo bằng văn bản. Gần như lập tức, ông Nguyễn Thanh Quang - GĐ Sở NNPTNT - lên tận hiện trường kiểm tra, có văn bản kịch liệt phản đối đòi hỏi nghịch lý “phá rừng làm rẫy” này.

Theo ông Quang, sau khi điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng, thì diện tích rừng phòng hộ đã bị điều chỉnh giảm để tăng diện tích rừng sản xuất và đất khác. Vì thế cần hạn chế tối đa việc chuyển đổi rừng phòng hộ để phục vụ cho các mục đích khác, ở đây là phục vụ cho DATĐ, trong khi DATĐ này đã có quy hoạch khoảng 1.000ha đất sản xuất bố trí lại cho dân TĐC.

Một lý do nữa không thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên này, bởi đây là đối tượng sẽ được giao khoán cho dân. Người dân sẽ được hưởng lợi ổn định, lâu dài do chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ được Chính phủ triển khai thực hiện.

Đồng thời với việc tổ chức thực hiện chính sách này, Bộ NNPTNT và Bộ Tài chính đã ban hành thông tư liên tịch, hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng, thay thế nương rẫy nhằm mục đích nâng cao độ che phủ rừng, bù đắp lại diện tích rừng tự nhiên bị mất, UBND tỉnh đã phê duyệt DA trồng rừng thay thế nương rẫy giai đoạn 2010 - 2014 và DA đang được triển khai tổ chức thực hiện.

Dự án thuỷ điện sông Tranh 2 đã lấy 2.000ha đất rừng, còn đòi biến 745ha rừng tự nhiên thành rẫy.

Chạy theo lợi nhuận

Chỉ tính riêng tại huyện Bắc Trà My, DATĐ Sông Tranh 2 đã chiếm khoảng 2.000ha đất rừng, nhưng việc trồng rừng bồi thường thay thế đến nay vẫn chỉ nằm trên giấy tờ cam kết mà chưa hề được chủ đầu tư thực hiện. Nợ cũ chưa đền, thì nay chủ đầu tư lại đòi vay thêm một diện tích lớn rừng tự nhiên phòng hộ tại đây để phá đi làm rẫy.

Vậy tại sao chủ đầu tư cứ nhất thiết đòi phá rừng tự nhiên mà lại không thực hiện thu hồi đất trong quy hoạch để bố trí lại đất sản xuất cho dân TĐC theo phương án đã được tỉnh và EVN phê duyệt? Theo khảo sát của chính chủ đầu tư, tại khu vực TĐC có đến 845ha đất sản xuất đang được người dân sở tại canh tác, được chủ đầu tư đo đạc, giải toả chuẩn bị cho việc cấp đất cho các hộ dân TĐC. Nhưng nếu thực hiện theo phương án này, thì chủ đầu tư ngại... tốn tiền.
 
Văn bản đòi “phá rừng làm rẫy” của Ban QLDATĐ 3 nói rõ: “Hiện nay đơn giá bình quân thu hồi 1ha đất sản xuất của người dân sở tại gần khu TĐC khoảng 100 triệu đồng (chưa tính đến các khoản hỗ trợ và bồi thường tài sản trên đất), chênh lệch từ 2 - 3 lần so với đơn giá đất trong lòng hồ. Nếu đền bù đất cho người dân sở tại để thu hồi, sẽ phát sinh chi phí rất lớn cho chủ đầu tư”. Chính vì vậy, thay vì thực hiện đúng theo phương án bố trí đất sản xuất cho dân TĐC và đúng theo quy định pháp luật, chủ đầu tư đưa ra đề nghị phá rừng nhằm vụ lợi cho riêng mình.

 

Trương Tâm Thư (Lao Động)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu