Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Thủ tướng Võ Văn Kiệt với các chuyên gia tư vấn (Kỳ 1)

14/05/2010 13 phút đọc Trần Đức Nguyên
Yếu tố quan trọng hàng đầu, có thể coi là điều kiện tiên quyết cho việc tập hợp và phát huy trí tuệ của chuyên gia
Thủ tướng Võ Văn Kiệt với các chuyên gia tư vấn (Kỳ 1)

Yếu tố quan trọng hàng đầu, có thể coi là điều kiện tiên quyết cho việc tập hợp và phát huy trí tuệ của chuyên gia tư vấn; đó là sự tôn trọng và chân thành lắng nghe của người lãnh đạo đối với các chuyên gia. Thái độ đó bắt nguồn từ tâm nguyện một lòng vì nước, vì dân cùng với ý thức gắn bó máu thịt với dân, tin vào dân, học hỏi dân mà anh Sáu Dân đã tôi luyện trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, trở thành một tính cách mang đậm tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

 

  • LTS: "Có những con người đáng quý mà sau mỗi lần gặp gỡ vì công việc, hay đơn giản chỉ là thăm hỏi xã giao, đều để lại trong lòng ta một ấn tượng đẹp đẽ và đằm thắm: Ta cảm thấy tin yêu cuộc đời hơn vì quanh ta còn có những trí tuệ khát khao chân lý và những tấm lòng chứa chan tình nhân ái"- một trí thức đã viết những dòng như vậy về nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Sắp tròn hai năm ngày cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt về chốn vĩnh hằng. Để có thể trả lời phần nào câu hỏi: Vì sao con người đó luôn được trí thức thương và kính, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết hai kỳ của ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng.

 

Đồng chí Võ Văn Kiệt, người mà chúng tôi thường gọi tên thân thương là anh Sáu Dân, được Quốc hội khóa VIII tại kỳ họp tháng 8 năm 1991 bầu vào cương vị Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng*sau khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cùng với Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 được Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) thông qua thành nghị quyết (dưới đây gọi tắt là Cương lĩnh 1991Chiến lược 1991).

 

Đại hội VII đánh dấu một bước phát triển về đường lối, quan điểm đổi mới, đặc biệt là về kinh tế-xã hội, song chưa phải mọi vấn đề về nền kinh tế thị trường đều được giải đáp rõ ràng, đi kịp yêu cầu của cuộc sống. Cương lĩnhChiến lược 1991 thống nhất với nhau về đường lối chung nhưng cũng có quan điểm không giống nhau.

 

Một ví dụ : Về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh đề ra " xã hội do nhân dân lao động làm chủ,... con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công"; còn Chiến lược nêu "Xã hội do nhân dân làm chủ,... xóa bỏ áp bức, bất công"[1]. Sự khác nhau chỉ ở vài chữ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách, đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế tư nhân cùng với tầng lớp doanh nhân mà quan điểm cũ coi là có bóc lột nên không trong hàng ngũ nhân dân lao động. Về vấn đề này, đến Đại hội X năm 2006 nghĩa là sau 15 năm, mới đi tới quan điểm thống nhất như đã nêu trong Chiến lược 1991.

 

"Yêu nước, đoàn kết, hoà hợp dân tộc là chung lòng, chung sức phấn đấu theo mục tiêu đó, vượt lên trên những sự khác biệt, kể cả sự khác nhau về chính kiến"- ông Sáu Dân.

 

Tuy không trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Chiến lược, nhưng anh Sáu Dân đã góp tiếng nói cùng anh Đỗ Mười (khi đó là Chủ tịch Hội Đồng bộ trưởng, Trưởng Tiểu ban chỉ đạo xây dựng Chiến lược) tích cực bảo vệ trước Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương những quan điểm và chính sách lớn đề ra trong Chiến lược, kể cả một số quan điểm không giống với Cương lĩnh. Khi trong Bộ Chính trị có ý kiến cho rằng đã có Cương lĩnh thì không cần đưa thêm Chiến lược ra Đại hội vì thập kỷ 90 chỉ là một thời đoạn trong quá trình thực hiện Cương lĩnh, các anh đã bảo vệ được việc trình Chiến lược ra Đại hội VII thông qua thành một nghị quyết riêng.

 

Người viết bài này tham gia xây dựng Chiến lược với cương vị Tổ phó Tổ biên tập[1], trực tiếp soạn thảo văn kiện. Sau Đại hội VII, tôi làm trợ lý cho anh Phan Văn Khải (khi ấy là ủy viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng), đồng thời thực hiện từng công việc như một chuyên gia tư vấn theo yêu cầu của anh Sáu Dân.

 

Ấn tượng ghi sâu trong tâm trí tôi là về tư duy và cách sử dụng chuyên gia của anh Sáu Dân qua một việc được anh giao. Đó là vào dịp Tết Quý Dậu (đầu năm 1993), lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ tổ chức gặp mặt bà con Việt Kiều về quê ăn Tết; anh giao cho tôi chuẩn bị bài phát biểu của Thủ tướng tại cuộc họp. Tôi liền hỏi: Bà con yêu nước nhưng không thích chủ nghĩa xã hội, ta có đoàn kết không? Anh Sáu Dân nói ngay: đoàn kết chớ sao không, mà phải đoàn kết thật lòng. Anh dẫn giải thêm: Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đề ra mới ở dạng thiết kế, chưa được xây dựng trong thực tế. Còn chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu thì đã sụp đổ vì có nhiều khuyết tật. Nếu đòi hỏi mọi người, nhất là kiều bào phải yêu chủ nghĩa xã hội thì rất ít người đồng tình với ta.

 

Câu trả lời tức thời của anh Sáu thể hiện một cách nhìn không né tránh sự thật và cho thấy rõ đây là điều anh đã suy nghĩ từ lâu, mặc dù khi đó không ít người, kể cả một số cán bộ lãnh đạo, vẫn cho rằng yêu nước thì phải yêu chủ nghĩa xã hội. Vào thời điểm ấy, có dịp được anh Tô (tên gọi thân mật anh Phạm Văn Đồng) gặp riêng, tôi cũng nêu câu hỏi này và được anh trả lời giống như anh Sáu Dân. Tôi rất đồng tình và phấn khởi thể hiện ý này trong bài phát biểu của anh Sáu Dân nhưng cần phải diễn đạt tinh tế hơn. Anh rất cân nhắc và tán thành nói như sau:

 

Ý thức dân tộc và lòng yêu nước đoàn kết, tập hợp mọi người Việt Nam hướng vào mục tiêu đáp ứng nguyện vọng thiết tha của toàn thể nhân dân, là" thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc". Mục tiêu đó kết hợp hài hoà lợi ích của mỗi người với lợi ích chung của cả dân tộc. Yêu nước, đoàn kết, hoà hợp dân tộc là chung lòng, chung sức phấn đấu theo mục tiêu đó, vượt lên trên những sự khác biệt, kể cả sự khác nhau về chính kiến.

 

Từ kinh nghiệm làm việc với môt số chuyên gia trước đây, Thủ tướng đã thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và cải cách hành chính trực tiếp giúp Thủ tướng trong việc hoạch định chương trình tiến hành cải cách từng thời gian, kiến nghị các chủ trương, chính sách theo tinh thần đổi mới, tham gia soạn thảo hoặc giám định và hoàn chỉnh các văn bản thể chế mang nội dung đổi mới chính sách.

 

Trong cuộc họp mặt đông đảo bà con kiều bào tại dinh Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh, bài phát biểu của Thủ tướng được cử toạ vỗ tay hoan nghênh nhiều đoạn, nhiệt liệt nhất là đoạn nêu trên và câu kết luận: "Nhiều người ví tình hình Việt Nam hiện nay như quang cảnh tranh tối, tranh sáng. Điều đó không sai, nhưng phải bổ sung thêm: đây là tranh tối, tranh sáng lúc rạng đông. Con gà Quý Dậu cất tiếng gáy báo hiệu rạng đông, báo hiệu vận hội mới của đất nước, tương lai phát triển rạng rỡ của nước Việt Nam ta, thúc giục tất cả chúng ta tranh thủ mọi khả năng và cơ hội mới đưa đất nước tiến nhanh" [1].

 

Để biến mong muốn đó thành hiện thực, với cương vị người đứng đầu Chính phủ, anh Sáu Dân hết sức quan tâm đưa các quan điểm đổi mới trong nghị quyết Đại hội VII vào cuộc sống. Một mặt phải cụ thể hoá các quan điểm đó thành thể chế, chính sách và tổ chức thực hiện nghiêm.

 

Mặt khác, qua cuộc sống và thực tiễn hoạt động, đường lối, quan điểm đổi mới phải không ngừng được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện. Những điều đó đặt ra yêu cầu cao về trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý phù hợp với kinh tế thị trường, trong khi kiến thức và kinh nghiệm của bộ máy công quyền còn bất cập. Đáng quan tâm hơn nữa là bộ máy lại có nhiều khuyết tật, đặc biệt là tệ quan liêu, tham nhũng, bệnh dối trá, chạy theo thành tích tiếp diễn nghiêm trọng.

 

Trong tình hình đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thấy cần có hình thức tập hợp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, đặc biệt là những người không ở trong bộ máy công quyền, có tiếng nói độc lập, để đóng góp ý kiến với Thủ tướng và Chính phủ. Từ kinh nghiệm làm việc với môt số chuyên gia trước đây (như với "nhóm Thứ sáu"[2]), Thủ tướng đã thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và cải cách hành chính (gọi tắt là Tổ tư vấn cải cách)[3] trực tiếp giúp Thủ tướng trong việc hoạch định chương trình tiến hành cải cách từng thời gian, kiến nghị các chủ trương, chính sách theo tinh thần đổi mới, tham gia soạn thảo hoặc giám định và hoàn chỉnh các văn bản thể chế mang nội dung đổi mới chính sách.

 

Nhằm tạo vị thế và điều kiện hoạt động thuận lợi cho Tổ tư vấn cải cách trong buổi đầu thành lập, Thủ tướng quyết định anh Lê Xuân Trinh, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ kiêm nhiệm Tổ trưởng. Tôi được cử làm Tổ phó, cùng với 8 chuyên gia về kinh tế, pháp luật hình thành NHÓM THƯỜNG TRỰC chuyên lo công việc nghiên cứu, tư vấn của Tổ. Đó là các anh: Lê Đăng Doanh, Trần Việt Phương, Đào Xuân Sâm, Nguyễn Văn Thảo, Lê Đức Thúy, Đào Công Tiến, Nguyễn Trung, Vũ Quốc Tuấn. Anh Sáu chủ trương mời một số cán bộ trong các Ban, trường của Trung ương Đảng và trợ lý về kinh tế của Tổng bí thư tham gia để phối hợp và đảm bảo sự liên thông trong nghiên cứu giữa Đảng và Chính phủ.

 

NHÓM KHÔNG THƯỜNG TRỰC LÀ CÁC CHUYÊN GIA TƯ VẤN do Thủ tướng trực tiếp gửi thư mời từng nguời:  ở phía Bắc có mấy cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu là các anh: Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Văn Trân, Hoàng Quy và một số chuyên gia ở các ban của Đảng, các viện, trường đại học về kinh tế, pháp luật là các anh: Vũ Cao Đàm, Đặng Đức Đạm, Nguyễn Văn Đặng, Ngô Đình Giao, Nguyễn Gia Hảo, Phan Thế Hùng, Ngô Tuấn Kiệp, Tương Lai, Phạm Quang Lê, Võ Đại Lược, Nguyễn Văn Nam, Phạm Quang Nghị, Nguyễn Thái Nguyên, Bùi Xuân Nhật, Lê Du Phong, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Minh Tâm, Lê Sĩ Thiệp, Lê Đình Thu, Đào Thế Tuấn, Vũ Quang Tuyến, Đặng Thọ Xương, Lương Trọng Yêm.

 

Ở phía Nam, những người được mời là một số trí thức ở trường, viện hoặc hành nghề tự do; trong đó, một số đã làm việc trong bộ máy của chế độ trước, có người từng giũ chức vụ cao, một số đã tham gia "Nhóm Thứ sáu" : chị Nguyễn Phước Đại, chị Trương Thị Hòa, các anh Trịnh Đình Ban, Trần Đình Bút, Nguyễn Đức Chính, Phan Chánh Dưỡng, Lâm Võ Hoàng, Nguyễn Tấn Lập, Trần Du Lịch,  Đặng Hữu Ngọc,  Nguyễn Xuân Oánh, Chu Phạm Ngọc Sơn, Huỳnh Bửu Sơn, Lê Văn Tư, Trần Anh Tuấn, Trần Bá Tước... Có 3 chuyên gia kinh tế đang sống và làm việc ở nước ngoài là anh Vũ Quang Việt ở Mỹ, anh Trần Văn Thọ ở Nhật, anh Trần Quốc Hùng ở Đức. Các thành viên trong nước của Tổ tư vấn cải cách đều tham gia vào các nhóm nghiên cứu chuyên đề.

 

Rất đông CỘNG TÁC VIÊN CỦA TỔ là chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở trong nước và những người trong giới kinh doanh, giới báo chí và trong trí thức người Việt ở nước ngoài. Tổ cũng thiết lập được quan hệ quốc tế rộng rãi, nghiêm túc, có hiệu qủa tốt, góp phần làm cho các tổ chức quốc tế và nhiều nước thêm hiểu biết và tán thành đường lối, chủ trương đổi mới của nước ta, tranh thủ được những ý kiến có giá trị của nhiều chuyên gia quốc tế, tạo được sự tín nhiệm và quan hệ hợp tác tin cậy với các tổ chức quốc tế và đại diện của một số nước tại Việt Nam.

Còn tiếp...

 

Trần Đức Nguyên (Tuần Việt Nam)


* Đến Hiến pháp năm 1992 gọi là Thủ tướng Chính phủ

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật Hà Nội 1991. Văn bản Cương lĩnh trang 8-9, văn bản Chiến lược trang 8

[2] Tổ trưởng là anh Phan Văn Khải, khi đó là ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước, Phó Trưởng Tiểu ban chỉ đạo xây dựng Chiến lược

[3] Hai đoạn in nghiêng trích từ bài phát biểu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại cuộc gặp kiều bào từ nước ngoài về VN trong dịp Tết Quý Dậu 1993, đăng trong Kỷ yếu của Ủy ban về người VN ở nước ngoài. Mục tiêu nêu trong đoạn trên viết theo Chiến lược 1991

[4] Quyết định số 494/TTg ngày 5-10-1993

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu