Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Chuyện kể Hoàng Sa - Kỳ - 1 & 2

14/05/2010 19 phút đọc Nam Cường - Lê Văn Chương - Tấn An
Kỳ 1 - Hoàng Sa thời yên ả Hoàng Sa - quần đảo Cát Vàng của Tổ quốc. Từ thời chàng lính thú, anh cai đội nhà Nguyễn
Chuyện kể Hoàng Sa - Kỳ  - 1 & 2

Kỳ 1 - Hoàng Sa thời yên ả

 

Hoàng Sa - quần đảo Cát Vàng của Tổ quốc. Từ thời chàng lính thú, anh cai đội nhà Nguyễn xuống thuyền, đến anh cán bộ quan trắc, người chiến binh chế độ miền nam gìn giữ, cai quản, giờ đây là hàng trăm ngàn ngư dân vừa đánh cá, vừa khẳng định chủ quyền biên cương.

 

Hoàng Sa mãi mãi là một phần lãnh thổ của người Việt Nam. Câu chuyện sau đây của những ngư dân bình dị, như những thước phim mới nhất về quần đảo thân yêu mà do hoàn cảnh hiện tại, ít người được tận thấy...

 

Lão ngư Dương Chính: “Tôi nhớ Hoàng Sa như nhớ nhà...”

Đẹp như vườn cổ tích 

 

Năm 1984, khi chưa hết cái thời bao cấp, 4 chiếc thuyền máy công  suất lớn (2 chiếc làm nghề lưới chuồn và 2 chiếc làm nghề vây rút chì) tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) được hạ thủy. Ông Nguyễn Sao ở xã An Hải - Lý Sơn là người cầm càng để “quay” nền kinh tế cho xã đảo.

 

Vào khoảng tháng 6 - 1984, tất cả 8 ngư dân trên thuyền ông Sao thức giấc và như lạc vào vườn cổ tích. Trước mặt các ngư dân hiện lên một dải cát vàng. “Hoàng Sa, đảo Cát Dàng (vàng) của ông bà mình!” - Các ngư dân trên thuyền reo hò.

 

Kính cẩn, khấn nguyện và báo cáo với các tiên linh từng hy sinh ở Hoàng Sa xong, các ngư dân bắt tay vào thả lưới. Cá tại Hoàng Sa nhiều vô kể, cá chuồn nhảy cả lên sàn thuyền giãy đành đạch. Chỉ đánh vài phiên lưới, cá đã đầy ắp hơn hai hầm. Các ngư dân cho thuyền chạy vào cảng Đà Nẵng bán cá rồi tiếp tục ra khơi.

 

Ông Bùi Văn Lịnh (63 tuổi), một trong những thuyền viên đi trên 2 thuyền mang số NB 4859 TS và NB 4860 TS ngày ấy, hồi tưởng: Từ đảo Lin Côn, các ngư dân vào trung tâm quần đảo Hoàng Sa và đặt chân lên đảo Phú Lâm - một trong những đảo chủ chốt của quần đảo Hoàng Sa.

 

“Lên đảo Phú Lâm, anh em ngư dân dạo bộ. Cả ngày trên đảo, anh em ngư dân thỉnh thoảng gặp vài người lính Trung Quốc. Gặp nhau, hai bên phất tay chào thân thiện...”, ông Lịnh nhớ lại.

 

Vào cái thời thắt lưng buộc bụng, trên thuyền không có lấy một chiếc hải đồ, định vị. Mỗi thuyền chỉ có một chiếc la bàn nhỏ xíu như chiếc đồng hồ đeo tay. Các ngư dân đặt chiếc la bàn trên mũi thuyền, chiếc đèn dầu tự chế treo lủng lẳng sát bên.

 

Trong suốt hành trình, thi thoảng các ngư dân lấy dao khứa vào chiếc đũa bếp hoặc que tăm, gác lên mặt la bàn để ước lượng. “Bắt 55 - 65” - thời đó, hai con số này đã trở thành từ cửa miệng của các ngư dân. Có nghĩa là neo thuyền trước khu vực Âm linh tự trên đảo Lý Sơn để làm điểm chuẩn, đúng 1 giờ sáng thì cho mũi thuyền chạy song song 55 đến 65 độ so với la bàn, sau 2 ngày 2 đêm thì dải cát vàng của đảo Hoàng Sa hiện rõ phía trước.

 

Đã thành tiền lệ, nếu chưa đi Cát Vàng thì chưa phải là trai tráng trên đảo. Những năm ấy, mối quan hệ giữa ngư dân Việt Nam và ngư dân Trung Quốc rất thân thiện. Ban ngày thì hì hục làm biển, ban đêm thì neo thuyền sát bên để giao lưu thâu đêm. Tình người không chia biên giới - đó cũng là tình cảm của những con người đồng cảnh ngộ trên sóng dưới gió, khát vọng không khí hòa bình.

 


“Tôi nhớ Hoàng Sa như nhớ nhà...”

 

60 tuổi đời, hơn 40 năm đi biển, hàng trăm bận đi về, xuôi ngược ở quần đảo Hoàng Sa, ông Dương Chính ở thôn Tây, xã An Vĩnh, Lý Sơn vẫn nhớ như in cái ngày cùng các bạn chài dong buồm trực chỉ Hoàng Sa vào những năm 80 của thế kỷ trước, ngày 9-6-1987.

 

Ông Chính kể: “Để chuẩn bị cho chuyến đi Hoàng Sa, năm 1984, ông vào xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh đặt đóng 3 chiếc thuyền, mỗi chiếc gần 40 CV. Đây là những chiếc thuyền “hoành tráng” nhất ở đảo Lý Sơn lúc bấy giờ. Sau đó, ông về lại đảo vận động hơn 40 bạn chài, chuẩn bị lương thảo cho ngày ra Hoàng Sa.

 

Khi ba chiếc tàu QNg 071 TS, QNg 072TS và QNg 073 TS do ông chỉ huy chuẩn bị ra khơi, người dân Lý Sơn không khỏi lo lắng. Bởi, các tàu không hề được trang bị các phương tiện hành nghề hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm của các ngư phủ.

 

Sau 3 ngày đêm cưỡi sóng, chỉ với chiếc đèn hột vịt đặt cạnh la bàn để phán đoán hướng đi, nhóm bạn chài đã chạm các đảo Tri Tôn, Bãi Cát Vàng của quần đảo Hoàng Sa. Ông Chính nhớ lại: Sau 3 ngày đêm xuất phát từ Lý Sơn, chúng tôi đặt chân lên đảo Tri Tôn.

 

Sau đó, chúng tôi chọn vùng lãnh hải phía Nam quần đảo Hoàng Sa gần đảo Quang Ảnh để buông neo, đánh bắt. Hoàng Sa- ngư trường quen thuộc của ngư dân Quảng Ngãi hàng trăm năm trước là vùng đầy ắp hải vật. Ngay từ những mẻ lưới đầu tiên, nhóm bạn chài của ông thu về rất nhiều ốc đụn, xà cừ, cá nục, cá thu...

 

Ông bảo: “Cả đời đi biển nhưng chưa bao giờ chúng tôi tận mắt thấy những đàn cá khổng lồ như vậy ở quần đảo Hoàng Sa. Chỉ cần đứng trên thuyền cũng có thể nhìn thấy từng đàn cá thu, cá nục trắng lóa, ken dày mặt biển. Năm đó, chúng tôi không hề gặp sự cản trở nào từ các tàu lạ. Mình đánh bắt, họ cũng đánh bắt. Chúng tôi đánh bắt quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa. Thỉnh thoảng chúng tôi và ngư dân Trung Quốc vẫn đổi nước ngọt cho nhau “điền tư, ngư chung” là vậy”.

 

Lần đó, sau gần 10 ngày đánh bắt ở quần đảo Hoàng Sa, cả 3 tàu không còn chỗ chứa hải sản. Ông ra lệnh cho các thuyền nhổ neo quay về các cửa biển Hội An của tỉnh Quảng Nam và Phú Thọ của tỉnh Quảng Ngãi bán hải sản cho các thương lái. Liên tiếp những năm sau đó, ông cùng các bạn chài đất đảo Lý Sơn thường xuyên đi về quần đảo Hoàng Sa để đánh bắt hải sản.

 

“Tôi nhớ các đảo Lin Côn, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Phú Lâm, Đá Bắc... ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam như thể nhớ nhà”, ông Chính bồi hồi.

 

Tàu đi Hoàng Sa trở về. Ảnh: Văn Chương

 

Người đồng hương đặc biệt

 

Vào đầu năm 1991, ông Trần Dư ở Lý Sơn đã thuê một chiếc thuyền to của một công ty đường sông về làm ăn. Tuyển một đội đi biển thành thạo lên đến hàng chục người, ra đến Hoàng Sa, các ngư dân hăm hở bắt cá thu, cá ngừ to như cây chuối.

 

Đang tính chuyện một vài hôm nữa vào bờ, bất chợt, lính Trung Quốc ùa ra bắt và đưa chiếc thuyền vào đảo Phú Lâm. Đây cũng là lần đầu tiên ngư dân ở Quảng Ngãi bị lính Trung Quốc bắt.

 

Do bất đồng về ngôn ngữ, một người lính đứng trước các ngư dân, lấy tay vẽ hình một vòng tròn dưới cát, nâng 2 bàn tay lên ngang miệng, ra hiệu châm lửa và nhảy cẫng lên: “Xịt… xịt… xịt… bùm… bùm!”.

 

Ông Nhật chợt nhớ đến bài hát: “Việt Nam - Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông” nên bàn với anh em. Rồi các ngư dân đồng loạt lấy tay chỉ vào răng, chỉ vào môi, hô to: “Việt Nam - Trung Hoa, Việt Nam - Trung Hoa như môi với răng!”. Những người lính hiểu ra, miệng cười: “Hảo hảo!”.

 

Các ngư dân tăng tốc cho tàu về phía đảo ông Già (đảo mang tên Chánh đội trưởng thủy quân Hoàng Sa - Phạm Hữu Nhật) để nghỉ xả hơi. Hòn đảo mang tên người anh hùng đã ra khai phá và khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa từ mấy trăm năm trước, giờ đây ẩn dật trong khung cảnh hoang sơ, không người dân cư trú. Phần lớn cây cối trên đảo có tán thấp, gốc to để trụ với bão gió. Trên đảo có rất nhiều chim và trái cây.

 

Và bất ngờ tại hòn đảo này, các ngư dân Lý Sơn gặp một “đồng hương đặc biệt” - một người lính Trung Quốc có dáng người cao, gầy, trạc tuổi trung niên đang đi tuần.

 

Thấy ngư dân Việt Nam, người lính này đến gật đầu chào và xổ ra một tràng tiếng Việt đặc sệt âm điệu Quảng Ngãi: “Quê mấy anh ở Nghĩa Bình?”. Các ngư dân há hốc mồm bởi chuyện lạ. Người lính này kể vanh vách từng địa danh, lịch sử của Quảng Ngãi và tâm tình: “Tôi là người Việt Nam, cùng quê với mấy anh, nhưng hoàn cảnh đưa đẩy qua định cư ở Hải Nam”.

 

“Thôi xuống tàu, anh em tụi tui chở về bển (Việt Nam) luôn!” - Những ngư dân trên tàu ông Dư nhiệt tình đề nghị. Một thoáng chần chừ và tiếc nuối, người lính này từ chối: “Tui cũng muốn về quê lắm, nhưng nếu theo mấy anh về, ở bên này họ quy tội ngư dân Việt Nam bắt cóc lính thì cả làng mình sẽ không đến đây làm ăn được nữa”.

 

Bao nhiêu năm rồi, mỗi khi chạy ngang đảo Phạm Hữu Nhật, các ngư dân vẫn không quên người đồng hương đặc biệt và bí ẩn này.

 

Kỳ 2: Từ đảo chim đến Bầu Trắng giữa trời biển Việt

 

Những người từng chiến đấu và làm việc ở Hoàng Sa kể rằng, những hòn đảo giữa trùng khơi nước Việt này có nhiều chim sinh sống, vì thế nên mới gọi là bãi phân chim.

 

Đó là ký ức. Còn giờ đây, ngư dân thường gọi đảo Phú Lâm là cái bầu trắng phiêu dạt. Vì sao vậy? Hoàng Sa được zoom cận cảnh qua những lời kể của những nhân chứng...

 

Đã về tới Lý Sơn, nhưng Hoàng Sa vẫn in đậm trong tâm trí anh Lưu. 
Ảnh: Nam Cường


Binh khí từ Hoàng Sa

 

Đáng lẽ tôi phải gọi cây chĩa sắt của ông Nguyễn Tấn Phát (75 tuổi) đúng tên gọi là cây chĩa sắt chứ chẳng phải binh khí gì gì, nhưng ông Phát cứ khăng khăng: Với tôi, đây chính là binh khí, giúp tôi trụ vững ở Hoàng Sa, giúp tôi cải thiện cuộc sống, chống chọi với những điều bất thường.

 

Ông Nguyễn Tấn Phát là một trong 4 người từng sống, làm việc và chiến đấu ở Hoàng Sa trong giai đoạn 1950 – 1974 hiếm hoi hiện còn sống ở Đà Nẵng. Với ông, Hoàng Sa vẫn gần lắm, đẹp tuyệt trần.

 

Ông Phát kể : Năm 1958, Nha khí tượng Sài Gòn phân công ông ra quần đảo Hoàng Sa với thời gian 3 tháng. Năm đó, ông vừa tròn 25 tuổi, đang hừng hực lửa cống hiến và máu phiêu du nên mau chóng đáp xe lửa từ Sài Gòn đi Đà Nẵng.

 

“Ngày đó, tôi vừa tốt nghiệp khoá đào tạo kỹ thuật về công tác quan trắc, đo đạc khí tượng, nghe được ra Hoàng Sa là sướng rân, hồ hởi muốn đi ngay” – ông Phát hào hứng.

 

Rồi ra đến Hoàng Sa, được phân lên đảo, thấy xung quanh là biển xanh vời vợi, còn Hoàng Sa như một bãi cát vàng lóng lánh giữa trùng khơi. Ông Phát đã không kìm lòng được, điện đàm vào Nha khí tượng Sài Gòn, xin ở thêm 3 tháng ở đảo Hoàng Sa, bởi theo ông “3 tháng đầu ở Hoàng Sa như một giấc mộng đẹp, có điều ngắn ngủi quá”.

 

Dẫu thế nào, rồi câu chuyện của ông Phát cũng quay về với cây ba chĩa. Ông kể: “Bước chân xuống tàu ra Hoàng Sa, tui tần ngần chẳng biết mua thứ gì khi đi qua chợ. Thấy thứ chĩa sắt này hay hay nên mua đại. Ai ngờ đó lại là cái hữu dụng nhất cho cuộc sống trên đảo. Nó giúp tôi tự vệ trước các loài rắn biển, cá mập, giúp tôi xiên cá, đào ốc cải thiện bữa ăn. Bởi thế, cây ba chĩa này theo tôi cho đến tận bây giờ. Tôi xem nó là binh khí”.

 

“Ngoài giờ làm việc, trong những ngày rảnh rỗi, tôi thường lấy xuồng du ngoạn đến các đảo nhỏ xung quanh. Có lần choáng ngợp ở “đảo chim”. Đấy là một dải cát vàng, không bóng cây ngọn cỏ, nhưng đầy trứng và chim non. Chỉ cần đứng một chỗ là có thể hốt cả giỏ bộn trứng chim, vích (rùa biển). Không biết bây giờ thế nào, chứ Hoàng Sa hồi đó còn nguyên sơ và thơ mộng lắm.

 

Ai đó nói rằng Hoàng Sa là đảo chim, hay là bãi chim ỉa cũng đúng. Nơi đó đầy rẫy chim. Chỗ chúng tôi làm việc là một căn nhà chơ vơ trên đảo. Cách đó không xa là tiền đồn đóng quân của 20 lính hải quân Sài Gòn”.

 

Chỉ với 6 tháng thôi, nhưng dường như với ông Nguyễn Tấn Phát, Hoàng Sa mãi mãi là ký ức tươi đẹp trong trí nhớ. Ông Phát mơ màng: Giá như có một lần sớm đặt chân lên lại Hoàng Sa...

 

Người Việt Nam, đảo Việt Nam. Đào giếng nước ngọt trên đảo Hoàng Sa năm 1938. Ảnh: TL


Đảo công trường

 

Hôm nọ, khi tôi đem thắc mắc về Hoàng Sa bây giờ hỏi thuyền trưởng tàu QNg 66478 Mai Phụng Lưu (thôn Đông – An Hải, Lý Sơn), người từng 3 lần bị bắt giữ ở Hoàng Sa, lần mới nhất vừa được thả về hôm 28-4 vừa rồi, anh nói ngay: Làm chi còn cảnh thơ mộng lãng mạn như vậy nữa. Đảo Phú Lâm giờ đây như một công trường xây dựng.

 

Giữa cái nắng trưa Lý Sơn hầm hập, không chỉ riêng tôi mà vợ và con gái anh Lưu cùng mải mê nghe kể chuyện Hoàng Sa. Có lẽ, nếu tôi không hỏi, dù có là người trong nhà, e rằng chị Đợi và em Mai Thị Bích Huệ chẳng bao giờ được thấy chồng, cha mình tả cảnh Hoàng Sa cận kề, tỉ mỉ như thế.

 

“Khi mới đặt chân lên cầu cảng, họ bắt chúng tôi cởi áo bịt mặt, nhưng tôi vẫn kịp thời chứng kiến toàn bộ cuộc sống và hình thù trên đảo. Sau này, những lần họ gọi lên, không bị bịt mặt nữa thì tôi mới thấy, họ đã xây dựng đảo Phú Lâm vội vã, ngổn ngang thế nào” – anh Lưu kể.

 

Ngư dân Bùi Văn Hải, chồng chưa cưới của cô gái Mai Thị Bích Huệ, cũng vừa được thả về cùng đợt, tiếp lời: “Họ không trực tiếp bịt mặt chúng tôi, anh em dùng áo quấn ngang mắt sơ sài nên vẫn thấy được.

 

Ngay từ cầu cảng đã thấy khủng khiếp thế nào rồi. Xung quanh cầu cảng, đậu san sát vào nhau toàn tàu sắt, cái  nào cũng to lớn lừng lững, nhìn là biết tàu chiến. Trên tàu lính tráng nhộn nhịp, người nào cũng cao to bặm trợn, súng kè kè bên vai”.

 

Còn ngư dân Đinh Văn Phú (thôn Đông, xã An Hải), một trong những ngư dân đầu tiên của đảo Lý Sơn đánh cá ở Hoàng Sa, bồi hồi nhớ lại: “Lần đầu tiên tàu chúng tôi bị bắt và lai dắt vào gần đảo Phú Lâm cũng cách đây 15 năm rồi.

 

Ông Nguyễn Tấn Phát với “binh khí từ Hoàng Sa”. 
Ảnh: Nam Cường


Hồi đó, khi tàu chúng tôi cách đảo Phú Lâm khoảng 20 hải lý, nhìn từ đằng xa chỉ thấy như một cái bầu trắng khổng lồ trôi dập dềnh giữa đại dương. Khi tới gần mới biết đó là hệ thống ra đa của Trung Quốc, họ đặt trên một ngôi nhà cao tầng.

 

Cái bầu trắng to lắm, không thể tưởng tượng nổi. Từ đó, ngư dân Lý Sơn đặt hòn đảo Phú Lâm là đảo Bầu Trắng, nghe thì rất hay, nhưng mỗi lần bị lai dắt vào Bầu Trắng là một lần ngư dân trắng tay uất ức”.

 

Ngày 26-4, tức là một ngày trước khi họ thả chúng tôi về, đang nằm trong nhà thì nghe họ đốt pháo ầm ầm. Ngó ra thấy dường như họ đang động thổ một công trình gì đó lớn lắm, có lẽ họ xây cầu cảng mới. Tôi thấy mấy ngày trước họ tập trung vật liệu, xi măng sắt thép chất từng đống lớn, họ làm hì hục thâu đêm. Điện đèn sáng quắc cả một vùng trời. - Anh Mai Phụng Lưu kể 

Anh Mai Phụng Lưu vẫn còn nhớ như in những lần anh được đưa ra khỏi nhà giam để lên khai báo, anh kịp lưu trong bộ nhớ những cảnh vật trên đảo: “Họ xây dựng đồ sộ lắm, nhà cửa toàn 4 – 5 tầng san sát, có những nhà xây đến gần 20 tầng, cao lừng lững, ốp kính xanh trông như khách sạn. Giờ đây họ cũng đang tiếp tục xây dựng, ầm ào cả ngày đêm. Công nhân tấp nập, đường sá rộng thênh, có cả ngã ba, ngã tư, rồi có đèn đỏ đèn xanh giao thông. Nói chung là không khác chi một thành phố thu nhỏ cả”.

 

Anh Lưu kể rằng xe đưa ngư dân từ cầu cảng lên tận phòng giam là loại xe 12 chỗ ngồi. “Theo quan sát của tôi, loại xe này trên đảo cũng vài chục chiếc, còn xe hơi 4 chỗ thì nhiều vô kể. Máy bay họ có 2 – 3 chiếc trực thăng và một chiếc lớn lắm, giống như loại chở khách của ta”.

 

Nửa tháng ngồi phòng giam trên đảo, thêm 3 lần được dẫn lên tra hỏi mà không bịt mặt, anh Lưu giờ có nhắm mắt, cũng tưởng tượng đúng những con đường, cây cối, nhà cửa ở Phú Lâm.

 

“Họ xây nhà lạ lắm, 4 – 5 tầng mà có hình thù như chiếc tàu chiến, toàn bộ nhà sơn màu xám. Nhà họ quy hoạch từng dãy xung quanh đảo từ thấp đến cao, nên trông đằng xa đảo Phú Lâm như một chiếc tàu chiến khổng lồ, in đậm giữa biển khơi”.

 

Chừng như nhớ đến lần bị đánh bởi ba người lính nồng nặc men rượu, anh Lưu kể: Trên đảo quán nhậu san sát, gà vịt quay nhiều vô kể. Tôi thấy bia rượu họ uống thả dàn.

 

Cũng ấn tượng về một đảo Bầu Trắng như anh Mai Phụng Lưu, nhưng ông Tiêu Viết Là lại thường nhắc đến những người thường trên đảo, những người không đánh đập, tra khảo ông, đôi khi còn tỏ ra thương hại.

 

“Mấy ngày đầu chúng tôi chỉ ăn cơm không với đu đủ, sau có người đàn bà nấu cơm ở công trường thỉnh thoảng cho chúng tôi ít đầu cá nhỏ kho mặn. Thế cũng là sung sướng lắm rồi”.

 

Tiêu Viết Linh – con trai ông Là kể, có lần, người con trai bà nấu ăn còn cho anh hẳn 5 điếu thuốc, tất nhiên là cho giấu diếm, và đó thực sự là món quà quý cho hơn 20 ngư dân đang bị giam, bởi với những đứa con của biển, thuốc lá là một thứ không thể thiếu trong hành trang đi biển.

 

Nam Cường - Lê Văn Chương - Tấn An (Tiền phong)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu