Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Đô thị hóa – Để “việc đã rồi” hay Suy tính trước sau?

14/06/2010 41 phút đọc Hà Thủy
Phần 1: Đô thị hóa – Để “việc đã rồi” hay Suy tính trước sau?Bản quy hoạch như một hàn thử biểu thách thức năng
Đô thị hóa – Để “việc đã rồi” hay Suy tính trước sau?

Phần 1: Đô thị hóa – Để “việc đã rồi” hay Suy tính trước sau?

 

Bản quy hoạch như một hàn thử biểu thách thức năng lực trí tuệ của những người có liên quan, giúp thấy rõ thực trạng về căn bệnh thụ động điển hình (được đến đâu hay đến đó) của tư duy kinh tế gia công trong cả tổ chức lẫn thực hiện.

 

Được triển khai với quy mô đồ sộ, đề xuất một kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đô thị với số lượng cực lớn (686km2 (68.600ha); tác động trực tiếp đến hơn 2,5 triệu nhân khẩu, hơn 1,5 triệu lao động, song các kế hoạch đô thị hóa lại hoàn toàn vắng bóng trong nội dung của đồ án Quy hoạch Hà Nội.

 

Đô thị hóa luôn là vấn đề xã hội đau đầu của mỗi quốc gia. Làm sao để đô thị hóa không đồng nghĩa với bần cùng hóa? Thái Lan là một ví dụ cho thấy, nếu đô thị hóa với tốc độ quá nhanh, cùng lúc có thể dẫn đến bất ổn.

 

Nhưng muốn thay đổi thực trạng này quả là không dễ. Điều này cần có sự thay đổi từ bên trong cách nghĩ, cách hiểu của những người có liên quan. Bởi cần nhất không chỉ là nâng cao nhận thức (trí tuệ) mà còn cần có tinh thần tương thân tương ái thực lòng (nhân cách).

 

Khi chúng tôi đang viết những dòng này, những con phố tại thành phố Hồ Chí Minh đang biến thành hào nước (xem: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/05/3BA1C473/ "Sai lầm trong quy hoạch khiến TP HCM ngày càng ngập")

 

Tại Ba Vì, nơi nơi, người nông dân bỏ ruộng để bàn tán và buôn bán đất đai. Chuyện không mới, nhưng chưa cũ. Đâu đó, ở bên này, có những người còm cõi cởi trần tát nước, nhịn đói qua đêm; ở bên kia, có những người thư thái nhìn ra cánh đồng và mơ màng nghĩ đến ngày màu xanh kia sẽ thuộc về vườn (biệt thự) nhà họ. Thấp thoáng ở giữa đối lập này là hình ảnh của những người làm quy hoạch - những người làm chính sách về không gian - những người thực hiện theo "ý chí của quyền lực".

 

Các vị ĐBQH xem mô hình đồ án Quy hoạch Hà Nội. Ảnh: Lê Anh Dũng.

 

Người ta thường nói kiến trúc (quy hoạch) là hình ảnh của quyền lực. Vì vậy, những động thái của quy hoạch sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp, tạo ra hiệu ứng xã hội rất lớn (tích cực hoặc tiêu cực).

 

Một trong những tác nhân tạo ra những vấn nạn xã hội đó là quá trình đô thị hóa tự phát.

 

"Nhiều vùng tại nước ta đang có tốc độ đô thị hoá nhanh chóng mặt như xã An Khánh. Chỉ sau một vài năm, đến cả chính quyền xã cũng bàng hoàng khi nhận ra người dân sau khi nhận được vài trăm triệu đồng tiền hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp đã xây những ngôi nhà khang trang, nhưng không biết làm gì để kiếm sống".

 

"Sẽ ít chuyện để nói nếu người dân được hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp và chủ động tham gia thị trường lao động chính thức được bảo vệ bởi các chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nông nghiệp vẫn là khu vực kinh tế có nhiều lao động tham gia nhất, phần lớn lao động ở những vùng đô thị hoá làm việc trong khu vực phi chính thức. Chính bởi vậy trong thực tế sự dư thừa lao động của nước ta có thể cao hơn nhiều những số liệu chính thức được công bố".

 

"Theo bài học kinh nghiệm từ các nước có nền kinh tế công nghiệp mới (NIE), trước khi đầu tư cho công nghiệp hoá, đô thị hoá họ đã đầu tư lớn vào nguồn nhân lực ở giai đoạn đầu, thậm chí là đầu tư trước về nguồn nhân lực. Chính điều này đã khiến các nước tránh được "điểm dừng đột ngột" trong tăng trưởng có nguyên nhân từ nguồn nhân lực kém". (Nguồn: http://vneconomy.vn/20100609051115235P0C17/khu-do-thi-cua-nhung-nguoi-cay-mat-ruong.htm)

 

Có lẽ tự nhiên trên đời này không ai muốn khiếu kiện, trừ trường hợp không còn con đường nào khác. Và những người có trách nhiệm là phải nghĩ đến, phải khai thông những con đường này cho những người gặp khó trong quá trình đô thị hóa có quyền lựa chọn.

 

Chúng ta đang ở giai đoạn phát triển kinh tế gia công và mơ về một nền kinh tế tri thức.

 

Hãy mơ đi, nhưng đừng quên một điều: không cái gì tự nhiên đến. Không phải cứ làm cho "người cày mất ruộng" là hoàn thành chỉ tiêu đô thị hóa! (Xem thêm: Quy hoạch đô thị: Những khái niệm bị lật nhào)

 

Một thành phố nếu chỉ là một đô thị có không gian (ở) sống tốt thì chưa đủ. Đô thị tốt phải là đô thị có môi trường sống, học tập, làm việc, khôi phục sức khỏe hoàn hảo. Một thành phố tốt phải tạo ra động lực phát triển cho toàn vùng (bao gồm đô thị và nông thôn) bằng thị trường và việc làm. Một thành phố thủ đô tốt phải tạo nên cảm hứng hình thành các thành phố tốt khác xung quanh nó.

 

Nhưng tất cả các điều tốt nói trên sẽ trở thành giả dối nếu không chỉ cho những người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa chỗ của họ là ở đâu?

 

Nhưng tất cả các điều tốt nói trên sẽ có cảm giác giả nếu không chỉ cho những người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa chỗ của họ là ở đâu? Và họ được gì trong tiến trình phát triển!

 

Khai thông con đường sinh kế: Việc làm!

Khai thông con đường tiến bộ: Việc làm!

Khuyến khích sự hướng thiện: Việc làm!

Xây dựng lòng tin vào sự công bằng, duy trì ổn định xã hội: Việc làm!

 

Nhưng tạo ra việc làm (và phải sống tốt) là một việc khó bởi lại phải bắt đầu từ mô hình phát triển, khả năng duy trì tăng trưởng bền vững. Nói thì dễ, làm không đơn giản.

 

Trong khi đó, khả năng hấp thụ lao động chính thức của đô thị là khác nhau.

 

Đối với Lao động phổ thông: khả năng tạo ra việc làm hữu hiệu nhất là Đô thị công nghiệp hóa (sơ khai), gia công, chế biến; càng ngày càng suy giảm nhu cầu khi quốc gia phát triển.

 

Đối với Lao động Dịch vụ giản đơn: số việc làm tự nhiên là hữu hạn và phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường; Dạng lao động này ở đô thị nào cũng cần; song số lượng là hữu hạn theo tỷ trọng dân cư (sở tại) của đô thị.

 

Đối với Lao động Dịch vụ chuyên nghiệp: Chỉ hình thành và phát triển trong môi trường đô thị có thị trường dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Dạng lao động này cần chủ yếu ở các đô thị tương đối phát triển và luôn luôn thiếu trong kinh tế dịch vụ. Họ thuộc nhóm người mang lại lợi nhuận trực tiếp.

 

Đối với Lao động Quản trị hệ thống: Hình thành trong môi trường đô thị phát triển hoặc có tiềm năng phát triển theo hướng hiện đại. Dạng lao động này luôn cần cho tất cả; Họ là tác nhân duy trì phát triển.

 

Đối với Lao động Nghiên cứu: Thuộc nhóm người chỉ hình thành trong môi trường đặc biệt, ở các đô thị, quốc gia có môi trường phù hợp. Các thành phố có được nhóm lao động này thường do họ lự chọn. Họ là tác nhân tăng trưởng và duy trì đẳng cấp.

 

Đối với Lao động Sáng tạo: Thuộc nhóm người có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu. Họ luôn là niềm tự hào cho những nơi họ đến. Chỉ có nhóm lao động này mới tạo ra những bước nhảy vươn lên một đẳng cấp cao hơn cho mỗi thành phố, mỗi quốc gia và dân tộc.

 

 

Giản đồ này cho biết tương quan giữa các nhóm lao động theo hình tháp, bắt đầu bằng lao động sáng tạo và kết thúc bằng nhóm gia công.

 

Hai nhóm đầu chiếm tới 90% số lao động, song lượng giá trị lao động lại chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị xã hội.

 

Bốn nhóm sau chỉ chiếm 10% số lao động, song lượng giá trị lao động lại chiếm tới khoảng 90% tổng giá trị xã hội.

 

Đây là một nghịch lý, nhưng đây cũng là sự thật. Đây là đặc điểm của kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo.

 

Trở lại với Quy hoạch thủ đô Hà Nội với mục tiêu:

 

"Tương lai mong muốn xây dựng và phát triển Hà Nội trở thành:

Thành phố Xanh: Phát triển bền vững về môi trường

Thành phố Văn Hiến: Cân bằng giữa bảo tồn và phát triển

Thành phố Văn Minh - Hiện đại: Phát triển bền vững trên nền tảng kinh tế tri thức"

 

Ai nghe cũng thấy thích thú vì toàn những nội dung thời thượng.

 

Tuy nhiên, có một mâu thuẫn, không, nhiều mâu thuẫn mà nếu không giải quyết được sẽ biến những nội dung trên thành những khẩu hiệu trống rỗng:

 

Một, để thực hiện mục tiêu Xanh, các nhà quy hoạch đã đưa ra ý tưởng (duy nhất) là chiếm đất nông nghiệp để dành cho đô thị - thực chất đây là lấy "xanh" cho thành phố (nông dân chắc cũng sẽ xanh nhưng là xanh mặt!).

 

Hai, khi mất đất thì phải kiếm việc làm, nếu để giải quyết được việc làm với tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu việc làm (phổ thông, trình độ thấp) tăng đột biến không cách nào khác là phải dựa vào công nghiệp (gia công). Và công nghiệp lại gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên và xã hội, và như vây, khẩu hiệu vẫn chỉ là khẩu hiệu.

 

Ba, nếu duy trì phát triển kinh tế tri thức thì tri thức đầu tiên phải nghĩ tới là làm sao quá trình đô thị hóa diễn ra êm thấm, nếu không, đừng nói chuyện phát triển bền vững khi bất ổn xã hội sẽ xảy ra!

 

Không nghĩ tới mô hình phát triển gắn với tiến trình đô thị hóa. Với tư duy đầu tư theo chiều rộng, bỏ quên các mô hình tăng trưởng theo chiều cao và chiều sâu, bản quy hoạch này như một hàn thử biểu thách thức năng lực trí tuệ của những người có liên quan, khiến cho chúng ta thấy rõ một thực trạng: kể cả những người mà chúng ta hy vọng có tầm nhìn vượt qua thế hệ cũng mắc phải căn bệnh thụ động điển hình (được đến đâu hay đến đó) của tư duy kinh tế gia công trong cả tổ chức lẫn thực hiện.

 

Giải một bài toán dễ để nông dân mất đất canh tác, thành phố rộng ra mãi, nông thôn ngày cành hẹp lại sao gọi là Xanh.

 

Một nhóm người giàu lên - một nhóm người nghèo đi sao gọi là Văn minh.

 

Phá cũ xây mới bất chấp lịch sử - sao gọi là Văn hiến.

 

Thành thị hóa nông thôn, nông thôn hóa thành thị, đi đâu cũng là công trường xây dựng, đầu cơ tràn lan hơn đầu tư sao gọi là Hiện đại.

 

Bài toán dễ là chấp nhận như đề xuất của đồ án, thu hồi đất tràn lan, bất chấp hậu quả xã hội có như thế nào; đặt tất cả vào "việc đã rồi".

 

Bài toán khó là phải đặt đô thị hóa với nông thôn nông nghiệp trở thành một trong những điều kiện tiên quyết xây dựng mô hình phát triển cũng như kế hoạch phát triển đô thị một cách chậm rãi, không cuốn theo tác động của các nhóm lợi ích, đầu cơ trên mồ hôi của nhân dân.

 

Bài toán khó là phải hiểu rằng:

 

1. Đối tượng nhạy cảm với đô thị hóa là những người nghèo ở nông thôn và đô thị;

2. Đối tượng chịu sự tác động của đô thị hóa luôn là một cộng đồng, không phải một cá thể;

3. Đô thị hóa không phải một thời điểm mà là một quá trình, nhiều khi ảnh hưởng đến vài thế hệ;

4. Sự bất bình đẳng, đầu cơ và lũng đoạn chính sách của một số nhóm người hầu như không thể tránh khỏi;

5. Trình độ lao động ở nông thôn rất thấp, đào tạo nguồn nhân lực cần trù liệu từ trước;

6. Trạng thái bất an lan rộng và kéo dài, ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và kéo theo việc đe dọa đến an ninh lương thực và an ninh quốc gia, hình ảnh của thể chế;

 

Quy hoạch Hà Nội đề xuất một kế hoạch giãn dân và thu hồi đất với quy mô có lẽ là lớn nhất trong lịch sử đô thị (và nông thôn) thế giới. Nhưng không có một hệ thống nhận thức bảo đảm tính khả thi, điều này chứa đựng rất nhiều nguy cơ. Các nhà đầu tư (hay đầu cơ) sẽ gây sức ép để quy hoạch được phê duyệt nhanh bất chấp có thế nào. Nếu những người có trách nhiệm không vững vàng e rằng hệ quả sẽ không lường hết được.

 

Quy mô dân số - Kế hoạch huyễn tưởng hay Đối mặt thực tiễn

 

Thành phố sẽ rơi vào bị động như chữa cháy Rừng U Minh trước đây nếu chúng ta tiếp tục tư duy quy hoạch theo phương pháp kế hoạch hóa như đồ án đã đề xuất.

 

Chính cách tính toán dân số này cộng với hệ thống quy chuẩn đô thị quá lạc hậu đã và đang là nguyên nhân gây ra những vấn nạn về môi trường và giao thông đô thị của các thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội như hiện nay.

 

"Năm 2030, dân số Hà Nội đạt khoảng dưới 10 triệu dân, tầm nhìn đến năm 2050 đạt ngưỡng 13-14 triệu người. Từ nay đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng dân toàn thành phố không tăng quá 2-3%/năm, giảm dần còn dưới 1,5% giai đoạn 2030-2050 (thời kỳ 1994-2007: 2,4%/năm). Tốc độ tăng tự nhiên chung trong khoảng 0,8-1%/năm. Tốc độ tăng cơ học (chuyển đổi ranh giới hành chính và lực hút đô thị) của toàn thành phố 1-2%/năm (0,4%/năm 2007 ); của riêng đô thị 3-4%/năm. Khu vực nông thôn tăng chung sẽ giảm xuống dưới 0% đến -3 % do thu hẹp ranh giới và hạn chế di dân từ nông thôn vào thành thị."

 

Tạm gạt số liệu sang một bên, thấy cách xây dựng số liệu hoàn toàn không có cơ sở vì các lý do sau:

 

(1) Các số liệu tính toán quy mô dân số đô thị như trên hoàn toàn dựa vào kế hoạch và ước định.

 

Chắc chắn các số liệu hiện trạng dân số cơ bản có được theo điều tra không hoàn toàn khớp với thực tế. Trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì con số chính xác hơn vì chúng ta vẫn sử dụng chế độ hộ khẩu. Trong từng thành phố các số liệu này có sai số nhiều hơn do lượng lưu chuyển theo lao động thay đổi nhiều vì tỷ lệ lao động không chính thức chiếm tỷ trọng cao.

 

Mặt khác, khi mở rộng thủ đô Hà Nội sẽ tạo ra làn sóng nhập cư mạnh mẽ hơn. Chúng ta có thể tham khảo biến động dân số thành phố New York: luôn có sự thay đổi thất thường, sự ổn định là không thể có được ở những thành phố năng động và đang chuyển mình.

 

208 năm (1800-2008) dân số tăng gấp 140 lần; 108 năm dân số chỉ tăng 2,4 lần; Biểu đồ này cho thấy số dân cư dao động không ngừng trong khi quỹ đất của thành phố vẫn ổn định (Do chế độ tư nhân hóa đất đai, tại Mỹ việc mở rộng các thành phố luôn gặp khó khăn, các khu vực công sẽ giữ ổn định, việc đầu tư theo chiều sâu là giải pháp hữu hiệu nhất). Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/New_York

 

 

Biểu đồ cho thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa (130 năm) sự gia tăng dân số của 1 thập kỷ luôn ở 2 con số, sau giảm dần và có giai đoạn âm. Việc xác định quy mô dân số đô thị hoàn toàn dựa vào phương pháp ước định có nhiều sai số và thiếu chủ động.

 

(2) Cách tính này không kiểm soát được quy mô dân số động (ngày và đêm) cư trú và làm việc thường xuyên.

 

 

Hãy tham khảo các số liệu của Tokyo cho thấy có sự chênh lệch giữa dân số ban ngày và ban đêm. Số liệu này cho thấy một thực tế thường gặp phải khi tính toán quy mô dân số đô thị nếu chỉ dựa vào khai báo cư trú sẽ hoàn toàn sai lầm.

 

Những con số cho thấy số lượng công nhân sống ở các tỉnh lân cận và đi làm vào Tokyo.
Source: Ministry of Internal Affairs and Communications; "Population Census"

 

Dân số này chưa bao gồm những người cư trú (hoặc làm việc) không thường xuyên (khách tham quan, du lịch). Cần chú ý: Dân số Tokyo đã đi vào ổn định, tương quan vào khoảng 20%. Đối với các đô thị mới, sự khác biệt có thể dao động từ 30 ~ 300 % (có nghĩa dân số ban ngày có thể cao gấp 3 lần dân số ban đêm).

 

Washington D.C có dân số 591.833 (2008) người nhưng do nhiều người di chuyển ra vào từ các vùng ngoại ô lân cận nên dân số thực tế lên đến trên 1 triệu người trong suốt tuần làm việc. Vùng đô thị Washington, bao gồm cả thành phố, có dân số 5,3 triệu người là vùng đô thị lớn thứ 8 tại Hoa Kỳ. (nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Washington, D.C)

 

(3) Cách tính này chưa gắn với tính chất của từng đô thị; Cách tính này chưa bao gồm lượng khách du lịch đến với Hà Nội; Chưa tính đến tổ chức các sự kiện cấp quốc gia và quốc tế.

 

Dân số đô thị phải tính toán căn cứ vào tính chất của đô thị. Đối với đô thị hành chính, sự chênh lệch giữa dân cư trú với cư dân làm việc có thể gấp 1~1,5 lần. Các đô thị phát triển công nghệ dịch vụ và là điểm đến của du lịch thế giới sẽ có lượng du khách đến tham quan bằng từ 3~9 lần dân cư sở tại: (New York: Du lịch với khoảng 47 triệu du khách Mỹ và ngoại quốc viếng thăm hàng năm.

 

Mỗi năm Paris đón khoảng 30 triệu du khách (>15.000.000 là khách quốc tế); London, thu hút gần 15.000.000 khách quốc tế mỗi năm (27.000.000 lượt khách ở lại qua đêm); Roma nhận được trung bình 7 -10.000.000 khách du lịch một năm, mà đôi khi tăng gấp đôi vào năm thánh.

 

Các sự kiện cũng là những yếu tố cần lưu ý: Washing ton D.C trong lễ nhậm chức của Tổng thống Obama đã phải chuẩn bị cho 1,5~2 triệu người tập trung vào một địa điểm. Thượng Hải tổ chức Expo 2010 Shanghai đã phải chuẩn bị đón tiếp 70.000.000 khách trong sáu tháng.

 

Như vậy Hà Nội cũng phải căn cứ tính chất của đô thị để xác định được khả năng tiếp đón các cư dân từ nơi khác đên làm việc và tham quan du lịch, nghỉ ngơi. Đương nhiên phải tính vào thành phần cư dân thực tế.

 

(4) Cách tính này chưa bao gồm giải pháp đô thị hóa bằng nhập cư lao động chất lượng cao (ban đầu) và lao động phổ thông (giai đoạn sau).

 

Cơ cấu lao động đô thị dù ở giai đoạn nào của phát triển cũng bao gồm các hợp phần như đã nêu ở phần đô thị hóa; tỷ trọng các hợp phần sẽ được điều chỉnh tự nhiên theo nhu cầu cân đối lao động. Giai đoạn đầu Hà Nội phải nhập cư lao động cấp cao; sau khoảng 20 năm, nhu cầu này sẽ trở nên cân bằng hơn và nhu cầu lao động phổ thông từ ngoại tỉnh sẽ trở nên mạnh mẽ hơn cho phân khúc dưới. Để có thể tính toán sát thực hơn, cần phải tính kỹ cân đối dân cư và lao động.

 

(5) Cách tính này chưa bao gồm lượng lao động không chính thức và di cư bất hợp pháp;

 

Dù muốn hay không thì có một sự thực là những lao động không chính thức rất phổ biến và di cư bất hợp pháp rất phổ biến tại các đô thị. Dù có rất nhiều nguyên nhân. Dù không được thừa nhận thì hạ tầng và tiện nghi đô thị vẫn hàng ngày phải chịu gánh nặng này, không có cách khác. Các biện pháp hành chính chỉ giảm thiểu chứ không ngăn chặn được hoàn toàn.

 

(6) Cách tính này chưa bao gồm đặc tính thủ đô quốc gia và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của thành phố.

 

Thành phố thủ đô của một quốc gia hay trung tâm khu vực thế giới đều phải mở rộng cửa đối với nhóm cư dân tinh hoa, việc nâng cao năng lực dung nạp sẽ xác định đẳng cấp của thủ đô. Vì vậy, lẽ tự nhiên, thành phố sẽ không thể khước từ như dự kiến của những người làm quy hoạch. Khước từ, đồng nghĩa với việc phế bỏ vai trò làm thủ đô.

 

(7) Cách tính này chưa kiểm soát được sự gia tăng dân số với mô hình phát triển của đô thị như động lực phát triển kinh tế.

 

Các cách tính và thông số tham chiếu cho thấy, để quy mô dân số không phải là trở ngại trong quy hoạch cần tính gắn với mô hình phát triển sao cho xác định được sức chứa giới hạn nhằm tăng cường năng lực đô thị. Quan trọng nhất là không bỏ sót các tác nhân đô thị để có thể chủ động biến cái hạn chế thành sức mạnh.

 

Bài toán dễ là giản lược cách tính cho quy mô đô thị, với một ước định lý tính. Trên cơ sở đó tạo ra một nhu cầu (đương nhiên không có thực) về đất đai; cũng như vậy tạo ra một cơ sở không chắc chắn về số liệu để tính toán hạ tầng xã hội và kỹ thuật theo số liệu võ đoán này, bất chấp đã có nhiều kinh nghiệm cay đắng từ quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, đã bị các nhà quy hoạch đẩy vào bế tắc.

 

Bài toán khó là trù liệu các thông số tính toán sát với thực tiễn và mô hình phát triển; căn cứ các kinh nghiệm thực tế của các mô hình phát triển tối ưu. Theo giới hạn không gian đô thị có trước (dựa trên cơ sở các giới hạn đất đai dùng cho đô thị trung tâm và quần cư theo sức chứa tới hạn.

 

Bài toán khó là phải đưa ra mô hình phát triển cho từng đô thị trong hệ thống. Căn cứ vào đó, xác định các tham số về sức hút đô thị, sức chứa tới hạn, tối ưu để làm cơ sở phân tích các biến động dân số trong suốt quá trình phát triển tước mắt và tương lai.

 

Bài toán khó là không hạn chế về quy mô dân số tính trước. Hãy xác định giới hạn không gian đô thị tối ưu dựa trên điều kiện có thể của quỹ đất. Nghiên cứu công nghệ tiện nghi đô thị tối ưu và đề xuất một giới hạn về sức chứa căn cứ sức căng tâm lý đô thị, các điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng đất.

 

Việc đưa ra giới hạn này là cách làm tốt nhất hạn chế sự bùng phát không kiểm soát được khi không gian đô thị bị bỏ ngỏ theo phương ngang. Trong một giới hạn có trước như vậy để đưa ra sáng kiến về cấu trúc đô thị tối ưu, nhằm làm tăng năng lực cạnh tranh của đô thị với tư cách chiếm thị phần thuộc nhóm cao hơn.

 

Bài toán khó nhất là phải thay đổi cách nghĩ từ đô thị bị động sang đô thị chủ động. Chuẩn bi đầy đủ năng lực hạ tầng, tiện nghi đô thị đón chào các cư dân của mình từ khắp đất nươc, từ khắp nơi trên thế giới. Không sợ đông người chỉ e ngại không đủ sức hút.

 

Phần 2: Ngẫm về cái giá phải trả của đồ án Quy hoạch nửa vời

 

Ý tưởng về cái gọi là “Trục Thăng Long” thô bạo, ngoại lai, với trục này, sẽ phá vỡ cấu trúc đô thị truyền thống (tự nhiên) của Hà Nội. Không thể ngụy biện “phải có cái trục này thì Hà Nội mới phát triển”. Với cách ứng sử quá tham vọng, Văn Miếu, Chùa Một Cột và các di sản khác sẽ bị tổn thương. Vậy Văn hiến sẽ thể hiện ở đâu trong đồ án này?

 

Thật khó để nhận xét vế cấu trúc tối ưu của đô thị khi chưa có các tuyến nghiên cứu định trước: Sự chuẩn mực của tầm nhìn, tính chất, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quy hoạch. Giới hạn không gian đô thị và nông thôn. Nhiệm vụ gia tăng giá trị Tài nguyên đất đai; Tài nguyên di sản; Mô hình phát triển thủ đô. Các vấn đề đô thị hóa; Quy mô dân số của đô thị.

 

Vậy sự chuẩn mực đó là gì?

 

Sự chuẩn mực của tầm nhìn (đối với thủ đô) là cần phải đưa ra nhãn quan chiến lược, ấn định vai trò đối với quốc gia, quốc tế của Hà Nội trong một tương lai không hạn định (là thủ đô vĩnh cửu của một nước Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ).

 

Sự chuẩn mực của tính chất đô thị: biết đô thị phải gồm những chức năng cơ bản nào, cho ai?

 

Sự chuẩn mực của mục tiêu quy hoạch: cần xác định những nội dung cụ thể cần phải thực hiện trong một kế hoạch có hạn định (2030; 2050). Hướng tới điều gì?

 

Sự chuẩn mực của các yêu cầu, nhiệm vụ: đặt ra các nội dung chi tiết phải thực hiện hướng tới các mục tiêu đã được ấn định của đồ án.

 

Điều cần thiết nhất là không lẫn lộn trình tự, trùng lặp nội dung! Nhưng phần Mục tiêu quy hoạch của đồ án lại có thừa điều này.

 

Quan trọng hơn ấy là tính đồng bộ. Đơn cử những dẫn chứng:

 

  • Đồ án quy hoạch mong muốn Xây dựng và Phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố Xanh

 

Do không có Giới hạn không gian đô thị và nông thôn được ấn định, cộng với giải pháp quy hoạch theo tiêu chuẩn đất đai/đầu người; không có chủ kiến về giảm thiểu, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy, dường như đồ án này chỉ duy trì vai trò độc tôn của cấu trúc đô thị phát triển theo phương ngang (chiếm nhiều đất) như đã nêu ở bài "Quy hoạch Hà Nội: Dễ hiện tại là làm khó tương lai ".

 

Trong khi đó, muốn thực hiện mong muốn (Xanh); thì cách chiếm đất là cách sơ đẳng nhất (kiểu "thực dân cũ") trong bài "Quy hoạch đô thị: Những khái niệm bị lật nhào" tác giả Khắc Kỷ Nam gọi là "Xanh Nằm" lại không phải cách duy nhất, càng không phải cách tốt nhất! Thế nhưng ý tưởng của đồ án lại đề xuất theo cách này. Việc chiếm quá nhiều đất nông nghiệp (tức mất đi mầu xanh thực chất) khiến cho mong muốn này có cảm giác mang tính khẩu hiệu!

 

Trên thế giới để thực hiện điều này (Xanh) theo mục tiêu tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Người ta thường lựa chọn cấu hình đô thị mật độ cao, còn gọi là đô thị nén (Compact Urban). Cũng thực hiện công cuộc xanh hóa đô thị nhưng phát triển theo phương đứng (Xanh Đứng), kèm theo các giải pháp giải phóng đất đai cho các khu vực nông thôn và thành thị. Điển hình là thành phố New York.

 

Cùng với việc đề cao phát triển các nhà chọc trời tại trung tâm Manhattan là mở ra công viên Central Park với kích thước khoảng 4000m x 800m (trên 320ha; nguồn http://en.wikipedia.org/wiki/Central_Park) biến thành phố New York trở thành một trong các điểm đến hấp dẫn nhất trên thế giới.

 

Cùng với việc đề cao phát triển các nhà chọc trời tại trung tâm Manhattan là mở ra công viên Central Park đã biến thành phố New York trở thành một trong các điểm đến hấp dẫn nhất trên thế giới

 

  • Đồ án quy hoạch mong muốn Xây dựng và Phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố Văn hiến

 

Để làm được điều này cần có tinh thần tự hào dân tộc. Tính kế thừa và sự trân trọng những giá trị của quá khứ, dành những gì tốt đẹp nhất cho mục tiêu cộng đồng. Điều đầu tiên, cần trân trọng đó là Trung tâm Chính trị Ba Đình.

 

Lẽ ra, đồ án cần phải nghiên cứu hoàn thiện và mở rộng khu vực Ba Đình kết nối khu vực Tây Hồ Tây, Mỹ Đình thành một quần thể toàn vẹn, đáp ứng đầy đủ mục tiêu khẳng định vị thế của Hà Nội, trở thành thủ đô "vĩnh cửu" của nước Việt Nam thống nhất.

 

Ngược lại, đồ án lại đề xuất một kế hoạch nửa vời: không những không nghiên cứu hoàn thiện Trung tâm Chính trị Ba Đình như đã nói trên, lại đưa ra "sáng kiến" một khu vực đất dự trữ cho "Trung tâm Hành chính quốc gia" tai Ba Vì. Việc này đồng nghĩa với không triển khai một kế hoạch cụ thể nào.

 

Không có một kế hoạch cụ thể nào tôn vinh vị thế truyền thống "là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời" của thủ đô Thăng Long. Nhưng lại có một ý tưởng về cái gọi là "Trục Thăng Long" thô bạo, ngoại lai, với trục này, sẽ phá vỡ cấu trúc đô thị truyền thống (tự nhiên) của Hà Nội. Tokyo, London và nhiều thành phố khác cũng là đô thị theo cấu trúc tự nhiên, vẫn phát triển cực thịnh.

 

Không thể ngụy biện "phải có cái trục này thì Hà Nội mới phát triển". Với cách ứng sử quá tham vọng, Văn Miếu, Chùa Một Cột và các di sản khác sẽ bị tổn thương. Vậy Văn hiến sẽ thể hiện ở đâu trong đồ án này?

 

  • Đồ án quy hoạch mong muốn Xây dựng và Phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố Văn minh

 

Văn minh liên quan đến ứng sử người với người. Đề cao tiêu chuẩn sử dụng đất cho đô thị, thu hồi đất nông nghiệp với quy mô rất lớn (như đã nêu trong bài "Quy hoạch Hà Nội: Dễ hiện tại là làm khó tương lai), trong khi không có một phân tích, giải pháp cụ thể nào cho việc thực hiện tiến trình đô thị hóa cho khu vực nông thôn, bảo tồn đất nông nghiệp, đất trồng lúa.

Sự thiếu chặt chẽ trong lập nhiệm vụ khiến cho quy hoạch sử dụng đất theo cảm tính (tiêu chuẩn đất đai/đầu người, thực chất không có lý thuyết nào để biện minh, bởi ngày nay trên thế giới không thực hiện quy hoạch theo cách này). Điều đó có thể dẫn đến, tạo ra hố sâu ngăn cách sự bất bình đẳng trong xã hội và những hệ lụy kèm theo. Vậy Văn minh thể hiện ở đâu trong đồ án này?

 

  • Đồ án quy hoạch mong muốn Xây dựng và Phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố Hiện đại

 

Không xây dựng mô hình phát triển của thủ đô một cách thấu đáo, đảm bảo tính hiện thực trong tiến trình phát triển. Dẫn tới việc xác định quy mô dân số theo cảm tính, tạo ra những tính toán sai trong hệ thống hạ tầng mà một loạt các thành phố Việt Nam đang mắc phải (điển hình là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội). Đô thị tiên tiến là đô thị hướng tới khả năng thích ứng với thách thức phát triển, linh hoạt như một cỗ máy đa chức năng. Càng gọn càng tốt.

 

Việc không xác định đầy đủ các thông số về quy mô sẽ dẫn đến quá tải, giải pháp tất nhiên tạo sự khước từ của thành phố. Sao gọi là hiện đại!

 

Đồ án bố trí các khu vực công nghiệp phía Đông Bắc (nơi thu hút nhiều lao động nhất). Trong khi khu vực thu hồi đất nhiều nhất lại là khu vực phía Tây Nam. Người Việt vốn tôn trọng quê hương bản quán, việc bố trí này sẽ tạo ra làn sống di trú và dao động con lắc, làm tăng lưu lượng giao thông xuyên tâm, liên tuyến. Tình trạng quá tải giao thông trong những ngày làm việc sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Và tắc đường, khói bụi sẽ mãi mãi là vấn nạn của Hà Nội. Đô thị ngày nay phải tạo ra việc làm, thực hiện cấu trúc cân bằng tại chỗ.

 

Giải pháp quy hoạch  như thế sẽ tiêu hủy thời gian, sức lực, tạo sự hỗn loạn của cư dân. Sao gọi là hiện đại!

 

Áp dụng máy móc cấu trúc đô thị đa trung tâm (chỉ có thể áp dụng cho các trung tâm dịch vụ phổ thông, thiết yếu). Ngay cả điều tối kỵ là Trung tâm quyền lực Nhà nước cũng được đồ án đề xuất bố trí phân tán. Giao động con lắc lại càng được kích hoạt với quy mô lớn hơn, lãng phí, khó hiểu. Sao gọi là hiện đại!

 

Với kế hoạch giãn dân nội đô. Đô thị bố trí dàn trải, các tiện nghi đô thị với công nghệ tiên tiến sẽ không thể áp dụng được. Việc khước từ các mô hình đô thị sinh thái dạng nén sẽ khiến cho các giải pháp sử dụng năng lượng tái tạo sẽ trở nên đắt đỏ hơn. Sao gọi là hiện đại!

 

  • "Nâng cao vai trò vị thế, tính cạnh tranh của Hà Nội, xứng đáng là Thủ đô của một nước có trên 100 triệu dân, phát triển bền vững và hội nhập với nền kinh tế thế giới"

 

Cạnh tranh trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tức cạnh tranh với Tokyo (hạng1/100); Los Angeles (hạng 3/100); Osaka (hạng 7/100); Hong Kong (hạng 16/100); San Francisco (hạng 18/100); Seoul (hạng 21/100); Shanghai (hạng 25/100); Singapore (hạng 27/100); Sydney (hạng 28/100); Beijing (hạng 38/100); Metro Manila (hạng 40/100); Guangzhou (hạng 44/100).

 

Nhưng Hà Nội sẽ cạnh tranh bằng gì?

 

Không tập trung nguồn lực, quy hoạch dàn trải. Cạnh tranh bằng gì? Bằng bán đất, vốn vay ODA?

 

Dịch chuyển các trung tâm ra ngoài đô thị truyền thống; Bỏ qua Di sản Niềm tin, không tập hợp được nhân tài; Cạnh tranh bằng gì? Không lẽ kinh tế gia công có thể tạo nên sức mạnh?

 

Không đầu tư cho lợi thế có sẵn. Quy hoạch thô bạo, phá hủy cả di sản đô thị và nông thôn. Cạnh tranh bằng gì? Khi khước từ phát triển kinh tế di sản?

 

Chống nhập cư, hạn chế gia tăng dân số, khước từ sức mạnh truyền thống của các đô thị Á châu. Cạnh tranh bằng gì? Không lẽ bằng các đô thị mới mà sẽ trở thành hoang phế trong một tương lai gần.

 

Các đô thị được quy hoạch "độc quyền" nơi nào cũng giống nơi nào, không có tác phẩm của các tác giả hàng đầu thế giới. Cạnh tranh bằng gì? Không lẽ chỉ bằng các dịch vụ cơ bản của du lịch vốn không đủ để sử lý ô nhiễm do du lịch mang lại.

 

Không chuẩn bị hạ tầng tiếp đón, khước từ các việc tổ chức các sự kiện lớn của thế giới. Cạnh tranh bằng gì? Không lẽ chỉ có thương hiệu nông sản và khoáng sản.

 

Không có trung tâm tài chính trong khu vực đô thị truyền thống (như London, New York, Tokyo). Cạnh tranh bằng gì? Khi bỏ qua lợi thế đặc biệt này Hà Nội sẽ chỉ còn tư cách một con nợ vì tham vọng viển vông.

 

Hãy xem bản đồ phân bố mật độ dân cư thủ đô London - một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của thế giới. Diện tích không gian đô thị 319 km2; mật độ dân số trung bình khoảng 8.980/km2; GDP (2008) 565 tỷ USD. Hiệu suất GDP/ km2 1,771 tỷ USD/ km2. Chú ý: khu vực số 7 là City of London có mật độ <5000/ km2; là nơi đặt Trung tâm quyền lực nhà nước và thành phố.

 

Bài toán dễ là cứ triển khai cấu trúc đô thị theo đề xuất của đồ án này. Chỉ quan tâm đến các đô thị quần cư, biến quy hoạch Hà Nội thành một đại công trường, một đại dự án bất động sản. Cứ thế, cho đến ngày bong bóng này nổ tung. Sau đó lại điều chỉnh quy hoạch.

 

Bài toán khó là phải biết bước lùi: "Sóng sẽ ngừng xô, Gió sẽ ngừng thổi".

 

Nghiên cứu lại từ đầu, một cách bài bản. Biến mục tiêu từ khái niệm trở thành các cấu trúc đô thị cụ thể theo tính chất của từng trung tâm, từng đô thị, trên tinh thần đề xuất các cấu trúc đô thị có chiều sâu, giảm thiểu nhu cầu về đất đai; đề xuất các cấu trúc đô thị có khả năng tạo ra việc làm và cân bằng tại chỗ. Cần phải tính đến cân bằng đô thị hóa với các địa phương trong vùng thủ đô để giải quyết nhu cầu việc làm trình độ thấp (hiện nay) và trình độ cao (sau này). Trước hết, cần làm rõ quy trình, nhiệm vụ nghiên cứu một cách có bài bản những vấn đề đặt ra cho đồ án, đề xuất một hệ thống tiên tiến để thực thi và thẩm định quy hoạch một cách khách quan.

 

Chưa bao giờ chúng ta thấy thành phố New York, Paris, London than (kêu) hạ tầng quá tải; Khi khách đến đông, họ coi đó là cơ hội. Vì vậy, cần tìm ra cấu trúc đô thị tối ưu cho toàn thành phố, từng trung tâm và từng đô thị. Cần nâng cao năng lực của thành phố để chuyển hóa các gánh nặng thành cơ hội!

 

Bài toán khó là không dễ tìm được những người biết thực hiện đồ án này. Nếu tiếp tục giao cho những người chưa thạo các khái niệm hay kinh nghiệm thì không thể có kết quả đúng nghĩa. Khó lại hoàn khó!

 

Lựa chọn vị trí các Trung tâm đô thị - Cảm tính hay Bài bản?

 

Việc lựa chọn vị trí các trung tâm (hạt nhân) đô thị bao giờ cũng khó. Xác định trung tâm thủ đô lại khó hơn. Xác định trung tâm để Hà Nội trở thành một trong các thủ đô là trung tâm khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lại càng khó nữa.

 

Song, khó không có nghĩa là không làm được.

 

Lý ra, các công việc này phải làm trước tiên, trước khi thực hiện Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội.

 

Và câu chuyện mở rộng, hoàn thiện hay di dời thủ đô cũng trở nên bình thường, nếu làm việc có trình tự và bài bản như sau:

 

(1)                     Chính phủ bàn thảo một kế hoạch làm rõ tính cấp bách của việc di chuyển (hay mở rộng, hoàn thiện) nơi làm việc của Chính phủ (cho các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn) trình các cơ quan có chức năng thông qua chủ trương.

 

(2)                     Tiến hành trưng cầu dân ý về Chủ trương này.

 

(3)                     Lập báo cáo nghiên cứu (luận chứng) đề xuất các địa điểm có thể được lựa chọn.

 

(4)                     Thăm dò dư luận để nắm thông tin về sự đồng thuận xã hội cho điểm các địa điểm (sơ tuyển).

 

(5)                     Tiến hành lựa chọn chính thức thông qua một ủy ban gồm nhiều chuyên gia (có uy tín), đứng đầu trong các lĩnh vực bằng hình thức chấm điểm theo các tiêu chí chuẩn mực đã được chuẩn bị trước.

 

(6)                     Trưng cầu ý kiến về kết quả đánh giá, lựa chọn được tổ chức trên cả nước.

 

(7)                     Chính phủ trình các cơ quan chức năng.

 

(8)                     Thủ tướng Chính phủ ra quyết định chính thức lựa chọn vị trí các trung tâm của thủ đô.

 

(9)                     Tiến hành quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thuộc địa giới Hà Nội.

 

(10)                 Tiến hành tổ chức quy hoạch chung riêng rẽ cho Thành phố thủ đô Hà Nội và các đô thị vệ tinh.

 

Bài toán dễ là bỏ qua các giai đoạn làm việc một cách bài bản. Làm tắt, sẽ trình đi, trình lại đồ án cho đến khi tất cả đều mệt mỏi và chấp thuận "làm cho xong, xin ý kiến cho có, và duyệt cho bằng được"; dẫu có thế nào!

 

Bài toán khó nhưng làm cho câu chuyện trở nên giản đơn hơn: Khẳng định từ bỏ ý tưởng nửa vời kia ("dời đô dự trữ"). Khu vực Ba Vì sẽ trở thành lâm viên để tất cả mọi người có nơi nghỉ ngơi khôi phục sức khỏe.

 

Bài toán khó là phải nhìn thấy lời giải cận kề: trong bán kính <6km có một nơi có thể tạo ra một National Mall (trung tâm quốc gia) của thủ đô Hà Nội. Gần Hồ Tây, gần Ba Đình, khu vực này hiện chưa được đầu tư xây dựng. Đây là cơ hội lớn dường như lịch sử dành cho chúng ta cơ hội hoàn thiện, mở rộng Trung tâm Chính trị Ba Đình.

 

Bài toán khó là phải nhìn thấy lời giải cận kề: trong bán kính <6km có một nơi có thể tạo ra một National Mall (trung tâm quốc gia) của thủ đô Hà Nội. Gần Hồ Tây, khu vực này hiện chưa đầu tư xây dựng. Đây là cơ hội lớn mà dường như dành cho chúng ta hoàn thiện, mở rộng Trung tâm Chính trị Ba Đình; Đó là khu vực Tây Hồ Tây!

 

"Bài toán khó là dành quỹ đất xung quanh Hồ Tây, Ba Đình cho các chức năng chính của thủ đô: Trung tâm Chính trị - Văn hóa - Lịch sử quốc gia. Khu vực Hồ Gươm, Phố cổ cho các chức năng Trung tâm Hành chính - Văn hóa - Lịch sử thành phố Hà Nội. Khu vực phố cũ cho các chức năng Trung tâm Tài chính - thương mại quốc tế". (xem: Cái khó của đô thị là không nhìn thấy bệnh dàn trải). Chỉ có như vậy. mới kế thừa được Tài nguyên Di sản thủ đô, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

 

Khó nhất, là làm sao thay đổi được cách nghĩ "làm cho xong" chứ không phải làm cho hay, cho tốt. Vì lợi ích chung!

 

 

Hệ thống trong đồ án quy hoạch - Bài toán có trước hay lời giải có trước

 

Quy hoạch, kiến trúc là một nghề thực hành, mọi lý thuyết đều trở nên vô nghĩa nếu thiếu kinh nghiệm thực tiễn của những người thực thi. Sự lúng túng của đồ án cho biết điều này.

 

Khi nghiên cứu nội dung của đồ án quy hoạch Hà Nội chúng tôi rất ngạc nhiên. Trên thế giới, các đồ án quy hoạch thành phố là những đồ án được nghiên cứu rất công phu và là một sản phẩm cần có sự tham gia của cộng đồng.

 

Nếu làm cho xong, chúng tôi nghĩ rằng không khó. Trên thế giới cũng như vậy. Khi đặt chính thể vào tình thế "việc đã rồi" thì không cần bàn làm gì. Người ta sẽ phê duyệt vì lý do chính trị, sẽ bất chấp tất cả!

 

"Tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay đều đang phải đối diện với vấn đề đô thị của chính mình, và không có một hệ thống lý thuyết nào dùng chung cho tất cả". (nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2009-11-04-suc-chiu-dung-cua-dan-co-han- ).

 

"Đáng tiếc là, bây giờ chúng ta vẫn đi theo những quan điểm đô thị học mà thế giới đã phủ nhận"; "Ta vẫn còn chịu những ảnh hưởng nặng nề của nếp cũ, chưa tiếp xúc được với tư tưởng mới. Vẫn là những lý luận cũ của Liên Xô mang về dùng cho đến nay". (nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2009-11-07-quy-hoach-do-thi-bam-riet-tu-duy-da-bi-phu-nhan ).

 

Hãy xem Nội dung đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 thì rõ.

 

Thực sự, hệ thống thiếu hoàn toàn những nội dung có hàm lượng chất xám cao, các luận cứ chặt chẽ. Đồ án chỉ đưa ra kết quả cuối cùng, song không có cơ sở để bảo vệ kết quả này! Chúng tôi đã phân tích khá nhiều những nội dung cơ bản về sự phi lý trong lựa chọn địa điểm cái gọi là Trung tâm Hành chính quốc gia, về những bất cập của các nội dung mà đồng nghiệp của chúng tôi đã nêu trong bài: Quy hoạch Hà Nội: Phải có tinh thần Đại Cồ Việt).

 

Bài toán dễ là chấp nhận cho qua, và, xem xét đồ án chỉ mang tính thủ tục; lời giải có trước bài toán và luận lý đi sau kết quả.

 

Bài toán khó là cần có sự xem xét công minh, không chịu một sức ép nào bên ngoài, thượng tôn luật pháp, thượng tôn quốc gia. Phải tỏ thái độ với những người vô trách nhiệm và thiếu năng lực. Bởi tổn thất kinh tế, xã hội, cơ hội cho mỗi người và quốc gia là vô cùng lớn nếu chúng ta chấp nhận "duyệt cho xong" đồ án này!

 

Hãy đưa tất cả về chân giá trị! Các đại biểu quốc hội, Các thành viên chính phủ, những người có lương tri hãy bước qua thói quen vị nể. Bởi đằng sau bản quy hoạch này là số phận con người, là việc quốc gia có cất cánh bay lên.

 

Hà Thủy (Tuần Việt Nam)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu