Với một đô thị nằm trong vùng bán nhật triều, với một địa hình được các chuyên gia ví von là một chiếc bát úp, với hơn 60% diện tích nằm dưới mực nước sông, ngập lụt đã trở thành một nỗi âu lo của chính quyền, giới khoa học và người dân TPHCM, nhưng những nỗ lực trong thời gian qua chỉ đưa tới tình trạng: càng đầu tư càng ngập.

Những năm cuối thế kỷ 20, thành phố mới có chỉ khoảng tám điểm ngập. Sau đó con số này liên tục tăng lên 12, 24, 28 và 36. Đến năm 2001, con số này tăng lên đến 100 vì dù xóa được 10 điểm ngập nhưng lại phát sinh thêm 24 điểm mới. Những điểm ngập mới phát sinh hàng năm sau đó cũng gần như tương ứng với các điểm xóa và cho đến nay vẫn còn 96 điểm ngập nhưng quy mô đã lan đến 24 quận huyện.
Theo ông Nguyễn Ngọc Công, Phó giám đốc Trung tâm Điều hành chống ngập TPHCM, năm 2010 sẽ xóa bỏ được 40% số điểm ngập, và sẽ xóa hoàn toàn trong năm tiếp theo.
Sở dĩ ông Công cam kết như vậy là vì theo ông, đến tháng 10 năm nay, dự án vệ sinh môi trường kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè sẽ hoàn tất, và lưu vực này sẽ trở nên khô ráo. Nhưng trao đổi với TBKTSG, ông Công thừa nhận “không dám khẳng định sẽ không có điểm ngập mới phát sinh” vì còn có những “bất cập trong các công trình”.
Các công trình mà ông Công đề cập đến có bốn dự án lớn là dự án vệ sinh môi trường thành phố, dự án kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, dự án cải thiện môi trường thành phố và dự án cải tạo rạch Hàng Bàng. Bên cạnh đó, một dự án có quy mô 11.000 tỉ đồng đã được phê duyệt từ năm 2009, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, xây dựng tuyến đê bao cho thành phố, dự kiến sẽ hoàn thành trong thời gian từ năm 2015-2020. Công trình đê bao này cũng là một trong những dự án còn gây tranh cãi, vì các nhà khoa học cho rằng dự án xây đê bao này chỉ chú trọng đến kiểm soát triều, nên cũng chẳng thể giúp một thành phố có hai phần ba diện tích nội thành bị ngập là do mưa và khi dự án chưa tính đến vấn đề kết nối giữa chống ngập mưa và chống ngập triều. Trung tâm điều hành chống ngập vẫn luôn khẳng định giải pháp xây đê bao và cống ngăn triều là những giải pháp cần thiết để giải quyết việc chống ngập. Sắp tới, giải pháp xây dựng hệ thống hồ chứa, gồm hệ thống điều tiết nước mưa ở vùng cao và hồ điều hòa nước triều ở vùng thấp cũng sẽ được đưa vào thành quy định trong xây dựng. Theo đó cơ quan chức năng khi cấp đất cho các nhà đầu tư, ngoài phần diện tích cho cây xanh còn cần phải có thêm diện tích hồ điều tiết, được nối vào hệ thống thoát nước của thành phố. Việc xây dựng các hồ điều tiết cũng là một nội dung mà tập đoàn tư vấn, kỹ thuật và thiết kế toàn cầu Arup đề xuất hồi giữa tháng 5 trong việc giúp đỡ thành phố xây dựng quy hoạch tổng thể về quản lý nguồn nước để ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Theo các chuyên gia của tập đoàn này, các hồ chứa nước thô tại các vị trí thích hợp, cũng như ở hai bên bờ sông, sẽ tích trữ lượng nước trong mùa mưa, và xả nước ra để giảm mặn, phục vụ cho việc cung cấp nước trong mùa hạn. Các số liệu quan trắc đo đạc về thủy văn trên hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai cho thấy một thực trạng: đỉnh triều ngày càng cao, mà theo Tiến sĩ Phan Văn Hoặc, Viện trưởng Viện Khí tượng thủy văn và Môi trường, thì “nguyên nhân không phải do nước biển dâng mà do san lấp sông rạch để xây dựng cao ốc, khu dân cư, khiến nước không còn đường thoát và cứ dập dềnh trong đô thị”. Còn Giáo sư Tiến sĩ Lê Huy Bá, Đại học Công nghiệp TPHCM, cho rằng hướng thoát lũ chính của thành phố là về phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc xuống Nam, Đông Nam và Tây Nam, vì thế việc mở rộng đô thị hiện đại về phía Nam Sài Gòn, Bình Chánh, quận 7, Nhà Bè đồng nghĩa với việc ngăn đường thoát nước của thành phố, biến các quận này thành những túi nước. Đây cũng chính là một khoảng vênh giữa các nhà khoa học công trình chống thoát lũ với các nhà khoa học khí tượng thủy văn, cũng như giữa các nhà khoa học và giới quản lý. Theo một chuyên gia, cho đến nay, giới khoa học và quản lý dường như vẫn chưa lượng hóa được bằng các số liệu khoa học các nguyên nhân gây nên ngập lụt, từ yếu tố mưa, lũ, triều cường hay do chính quy hoạch gây nên, mà chỉ nêu ra các hiện tượng, đề xuất các giải pháp dựa trên cảm tính. Còn giới quản lý thì xây dựng các đề án, kế hoạch cũng không dựa trên các số liệu, cơ sở khoa học đã được nghiên cứu, cập nhật. Cũng chính vì thế, mà cho đến nay, những thiệt hại về kinh tế do ngập lụt gây ra vẫn chưa có ai đứng ra đánh giá dù đã được các chuyên gia nước ngoài đặt vấn đề. Phi Tuấn (TBKTSG)