Để Hà Nội thực sự là nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, phải hỏi ngay những công dân Hà Nội, xác định đúng vị trí của họ: Những thị dân theo đúng nghĩa, không phải những thị dân “non”, nhà sử học Lê Văn Lan nói.
Đô thị hóa vuột khỏi sự kiểm soát
Nhà báo Kim Dung: Cá nhân tôi bằng sự trải nghiệm một đời làm báo, tôi thấy với bất cứ quốc gia nào nói chung và thủ đô nói riêng, thì văn hóa vẫn là một trong bốn ngọn cờ: Kinh tế, Đối ngoại, Văn hóa, Giáo dục. Nếu nhìn nửa cuối thế kỉ 20 vắt sang thế kỉ 21, về kinh tế Việt Nam có sự chuyển động, từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, có những thành quả nhất định về tăng trưởng kinh tế hàng năm. Về đối ngoại, Việt Nam đã tham gia và đóng góp tích cực trong các tổ chức khu vực và quốc tế. Về giáo dục, cho dù có những sự chê bai thì cũng đã có những cuộc cải cách hay đổi mới, tìm tòi để cứu vãn những bất cập, khủng hoảng của giáo dục.
Thế nhưng, về văn hóa, trong khi ở các nước tiên tiến, văn minh, văn hóa được coi là một thứ " tôn giáo" cao sang nhất, được sùng bái và tôn vinh nhất, thì ở ta lại ngược lại... Những giá trị vật thể, phi vật thể càng ngày càng xuống cấp...
Lí do đằng sau sự suy tàn đó là gì? Do chúng ta dốt nát, do tư duy, tầm nhìn hạn hẹp hay do ta trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh đói khổ chỉ lo ăn mặc nên không lo văn hóa?
![]() |
| Cái truyền thống từ xa xưa vốn đã có sự níu kéo giữa mấy hòn cù lao lác đác đô thị với "biển cả" nông thôn như thế, thì giờ ta đã và đang làm một quy trình ngược suốt mấy nghìn năm: "Nông thôn hóa" đô thị. Ảnh: Phạm Hải |
Nhà sử học Lê Văn Lan: Tôi cũng đã có nhiều suy nghĩ và cũng trên đôi lần thử giải đáp câu hỏi này.
Ta nói về chuyện này cho có thứ tự, có lớp lang theo mấy mệnh đề, phạm trù khác nhau.
Một là, truyền thống Thăng Long- Hà Nội có đúng là truyền thống văn hiến như chúng ta đang hô hào cổ vũ? Điều này cũng giống việc cứ nói đến gì tốt đẹp thì nhắc đến thời hoàng kim Nghiêu Thuấn, vườn địa đàng Eden mà quên mất ở đó có nhiều yếu tố hư ảo, không có thực.
Vậy ở đây vấn đề là gì khi người ta thiếu vắng thực tế ở một lát cắt thời gian lịch sử nào đó?
Nghìn năm văn hiến của Thăng Long Hà Nội dù có yếu tố mơ ước nhưng dưới góc độ một người nghiên cứu cổ sử, tôi có thể khẳng định, nghìn năm văn hiến ấy vẫn là chuyện có thực, dù không phải là toàn bộ sự thực.
Nhà báo Kim Dung: Cụ thể thế nào, thưa ông?
Nhà sử học Lê Van Lan: Đơn cử như chuyện học hành, sự trưởng thành lên, đẹp đẽ lên của phẩm chất, trí tuệ, con người Thăng Long- Hà Nội, hay nói cách khác, bàn về sự học của đất kinh kì.
Liên quan đến sự học và nói đến sự học, chúng ta cũng còn nhiều điều không hài lòng. Có phải vì không hài lòng nhiều điều về sự học thời bây giờ mà chúng ta hay nói về thời hoàng kim Nghiêu Thuấn, về một vườn địa đàng Eden, chỉ quanh sự học của Thăng Long- Hà Nội nghìn năm hay không? Thực tế điểm này hoàn toàn có thể chứng minh được.
Chúng ta có Văn Miếu Quốc Tử Giám, có 82 bia tiến sĩ được thế giới nhân loại thừa nhận là di sản trong ký ức của nhân loại. Chúng ta cũng có hàng nghìn câu chuyện về đức tính hiếu học, phương pháp học hành, việc vận dụng những tri thức mà người Thăng Long- Hà Nội đã rèn tạo nên, để rồi cuối cùng giúp ích cho đời, tạo ra một Thăng Long- Hà Nội nghìn năm văn hiến.
Như nhà văn Hoàng Quốc Hải nói, chúng ta còn lại những bia đá. Số lượng bia đá còn lại quả là một vấn đề, nhưng chất lượng còn quan trọng hơn. Chỉ một bia tiến sĩ khoa thi năm Đại Bảo 1442 do vua Lê Thánh Tông chủ trì, chỉ đạo tư tưởng, và Thân Nhân Chung chấp bút mà nói cho kĩ cũng thấy nhiều điều. Trên văn bia ấy có câu: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Đó là cái chất của 82 bia tiến sĩ ấy. Đây là bằng chứng cho chuyện văn hiến thi thư là có thật, không phải toàn bộ là hoàng kim Nghiêu Thuấn, địa đàng Eden.
Cái gọi là thanh lịch của người Tràng An cũng ở chỗ này. Thăng Long - Hà Nội là trung tâm quyền lực quốc gia, nó đồng thời cũng là trung tâm văn hóa bác học, văn hóa cung đình, nơi tập hợp đội ngũ tri thức để thực hiện quyền lực đó. Đó là điều kiện, là nguyên nhân làm xuất hiện truyền thống, xu thế, nhu cầu học hành chữ nghĩa để rồi đi thi đỗ đạt. Để một mặt được vào bia tiến sĩ, một mặt vào viện hàn lâm, vào Đông Các, nơi làm ra các sản phẩm trí tuệ. Tôi cho đó là một cách cắt nghĩa để nói về điều kiện, hoàn cảnh và cả nguyên nhân của cái gọi là thi thư văn hiến 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Bây giờ chúng ta ứng xử với truyền thống có thực đó như thế nào? Vô cùng nhiều vấn đề, nhưng với góc độ nghiên cứu sử học, có "đá" một chút sang phương diện xã hội học, tôi muốn nêu một chuyện thôi: Đô thị kinh kỳ Thăng Long - Hà Nội nghìn năm là một đô thị hiếm.
Có thể dùng hình tượng này để diễn giải: Chính đất nước này, dân tộc hình chữ S này là đại dương của 3 chữ Nông: Nông thôn, nông dân và nông nghiệp. Ba chữ nông ấy là bản chất của dân tộc này, của văn minh văn hóa này. GS Trần Quốc Vượng còn gọi 3 chữ Nông này là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam. Trên cái mênh mông như thế, trong lịch sử có thực nổi lên lác đác những hòn cù lao, lác đác, hiếm ít và nổi lên cũng không được cao lắm, đó chính là những đô thị. Trong số đó, hòn cù lao lớn nhất là Thăng Long- Hà Nội.
Chúng ta đang nói đến việc hình dung, phân loại cấu trúc của xã hội lịch sử dân tộc này trên nền tảng của 3 chữ Nông, thì có một số đô thị hiếm ít nhưng vô cùng quý giá bởi tính cách nó là đô thị chứ không phải nông thôn. Đó là sản phẩm nghìn năm mới tích lũy được, mới xây dựng được, trong đó sản phẩm sáng giá nhất là Thăng Long- Hà Nội.
Từ đô thị đó đẻ ra nền văn hóa bác học, cung đình. Còn ở vùng nông thôn, có nhiều lắm tinh thần yêu nước, cần cù dũng cảm, còn về mặt đích thực văn chương văn hóa thì quá hiếm hoi. Văn hóa dân gian ở vùng 3 chữ Nông, còn văn hóa bác học, cung đình thì ở đô thị.
Bây giờ chúng ta đang tiến hành đô thị hóa, nhưng chưa kiểm soát được quá trình đô thị hóa này. Lỗi của chúng ta là để cho nó vượt ra khỏi tầm tay của sự kiểm soát nhân danh đô thị hóa.
Cái truyền thống từ xa xưa vốn đã có sự níu kéo giữa mấy hòn cù lao lác đác đô thị với "biển cả" nông thôn như thế, thì giờ ta đã và đang làm một quy trình ngược suốt mấy nghìn năm: "Nông thôn hóa" đô thị. Chúng ta đang để việc nông thôn hóa đô thị này diễn ra xô bồ, gấp gáp.
Lãng quên văn hóa ngàn năm...
![]() |
| Nhà báo Kim Dung |
Nhà báo Kim Dung: Quá trình đô thị hóa nông thôn trước đây có thể kéo dài hàng nghìn năm nhưng tốc độ chậm do đặt trên một nền tảng khoa học kỹ thuật, kinh tế, triết học lạc hậu, cổ xưa... nhưng nông thôn hóa đô thị hiện nay tốc độ lại nhanh hơn, bởi nó là thời hiện đại?
| "Chúng ta cần phải mở trường để dạy những người Hà Nội bây giờ sao cho đúng là người Hà Nội. Những người có cốt cách, phẩm chất Hà Nội bây giờ chỉ còn lại con số vài vạn. Bên cạnh họ và tác động đến họ hằng ngày lại là số dân lớn hơn gấp nhiều lần"- Nhà sử học Lê Văn Lan |
Nhà sử học Lê Văn Lan: Nhanh, gấp gáp và xô bồ. Tôi cho đó là mấy thuộc tính của đô thị hóa bây giờ.
Và một quá trình đang diễn ra và lại diễn ra gấp gáp, xô bồ thì nó sẽ làm cái tinh túy, tinh hoa vốn đã có sẽ bị gấp gáp hóa, xô bồ hóa nhân danh cái văn hóa nông thôn. Chúng ta không báng bổ gọi văn hóa ở vùng 3 chữ Nông này là phần lớn có nhiều vấn đề, nhưng khi nó nguyên vẹn như thế vào đô thị thì chắc chắn có vấn đề.
Nhà báo Kim Dung: Tuy nhiên, mỗi xã hội có một thể chế, một cơ chế quản lý riêng. Vậy các chủ trương chính sách của nhà nước về mặt văn hóa lâu này chẳng nhẽ không đủ sức tác động, hay bản thân các chính sách quản lý văn hóa ấy cũng có vấn đề, không kiểm soát nổi quá trình nông thôn hóa đô thị?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Chính sách văn hóa này nằm trên nền tảng của một hệ thống chính sách khác - những chính sách chúng ta chưa thật sự làm chủ được. Chúng ta để vượt ra khỏi tầm tay. Bây giờ chỉ nhìn vào một tế bào, một kênh dẫn của quá trình đang diễn ra, chúng ta sẽ thấy ngay.
Đơn cử, nói về văn hóa giao thông. Ở đô thị, ta đang chứng kiến văn hóa giao thông nông thôn: Đường ta ta cứ đi, cứ xông lên phía trước, hăng hái vượt trên một con đường tắc nghẽn. Cái gọi là văn hóa nông thôn đó hiện hình ngay giữa đô thị.
Lấy ví dụ khác, là văn hóa ẩm thực. Thăng Long- Hà Nội là trung tâm quyền lực quốc gia, có Hoàng Thành, hoàng cung, rồi giới quan lại sĩ phu hàng ngày từ chỗ kinh thành đi về. Văn hóa ẩm thực cũng theo đó mà hình thành. Đơn cử cụ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi từ phường Bích Câu vào hoàng cung, cụ làm Tể tướng, rồi lại về phường Bích Câu sống với cháu là Nguyễn Trãi. Cái ăn của cụ thanh cảnh, tinh tế. Một bát bún thang cũng phải bày biện sao cho màu sắc hài hòa, đẹp mắt...Sự tinh tế của cụ Trần Nguyên Đán chính là nhân danh văn hóa bác học, văn hóa cung đình, cái làm nên một Thăng Long- Hà Nội.
Còn bây giờ, người ta lãng quên văn hóa. Người ta có thể ngồi vỉa hè, ngay bên cạnh các cống rãnh, nâng những cốc bia ngầu bọt, mà "dzô, dzô"... Còn đâu văn hóa Thăng Long - Hà Nội?! Những người đó không cần biết đến sự tinh tế của văn hóa ẩm thực ở Thăng Long - Hà Nội.
Đó là một hình ảnh nữa về văn hóa nông thôn khi vào đô thị, mà lại làm chủ đô thị, hay chí ít là lan tràn đến mức không kiểm soát được, không "khuyên giải" nổi. Không ai còn muốn bàn đến nó, chứ đừng nói chuyện ra chính sách, điều lệ văn hóa ở đô thị...
Mở trường dạy làm người Hà Nội?
Nhà báo Kim Dung: Nhiều bạn đọc gửi thư về Tuần Việt Nam nêu hai vấn đề quan ngại: Các giá trị vật thể được tu tạo và phát triển như thế nào và thứ hai là vấn đề về những giá trị phi vật thể. Đặc biệt những vấn đề phi vật thể, những giá trị về đạo lý, văn hóa, ứng xử của người Hà Nội đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, lo lắng của bạn đọc.
Bạn Phạm Vinh nói rõ là: Hiện nay, phần lớn những cư dân Hà Nội là dân nhập cư thế hệ thứ nhất đã có những cách cư xử không đúng với nét thanh lịch của người Hà Nội. Theo bạn, để có những công dân Hà Nội thanh lịch thì có lẽ cần mở những ngôi trường dạy làm người Hà Nội. Theo ông Lê Văn Lan, vì sao mà văn hóa người Hà Nội bây giờ cũng bị suy tàn?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Tôi hoàn toàn tán đồng với đề xuất của bạn Phạm Vinh. Chúng ta cần phải mở trường để dạy những người Hà Nội bây giờ sao cho đúng là người Hà Nội.
Tôi chỉ thêm một điều nữa, muốn vậy, chúng ta phải mở một ngôi trường mà nếu lấy mô hình Trường Phương Đình của cụ Nguyễn Văn Siêu- bây giờ còn di tích ở phố Ngõ Gạch, phố Nguyễn Siêu. Nhưng thay vì mỗi cạnh của ngôi trường vuông ấy là 20 mét, thì chúng ta cần ngôi trường có chiều dài mỗi cạnh là 20 km.
Nhà báo Kim Dung: Vì sao mà ngôi trường lại mở rộng về quy mô như thế, thưa ông?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Từ chỗ theo ông Alexander de Rhodes, thế kỉ 17-18, dân số Hà Nội có 5 vạn người, nên không gian tương ứng chỉ cho 5 vạn người ấy ở nội thành Hà Nội. Bây giờ dân số Việt Nam đã lên 6 triệu người. Với dân số vài vạn dân, một ngôi trường đào tạo có cạnh vuông 20 mét của cụ Nguyễn Siêu là thích hợp cho những người vốn có nguồn gốc, phẩm chất của người Thăng Long- Hà Nội.
Những người có cốt cách, phẩm chất Hà Nội bây giờ chỉ còn lại con số vài vạn. Bên cạnh họ và tác động đến họ hằng ngày lại là số dân lớn hơn gấp nhiều lần. Và vì thế, đương nhiên, đòi hỏi sẽ lớn hơn. Phải mở một ngôi trường khổng lồ như thế mới may đáp ứng được yêu cầu (!)
Nhà báo Kim Dung: Tức là cả Hà Nội cần phải biến thành trường học?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Hoàn toàn chính xác.
Nhà báo Kim Dung: Cốt cách người Hà Nội đã từng vào thơ ca, nhạc họa, làm say đắm lòng người. Theo ông, những nét biểu trưng nhất, hay nhất, đẹp nhất, mang tính mỹ cảm nhất của người Hà Nội là gì? Liệu có gì đáng lo ngại trong người Hà Nội hôm nay? Và làm sao để sức lan tỏa của những giá trị tinh túy, tài hoa của người Hà Nội có thể trở thành số đông?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Đây là cả một vấn đề lớn và gây nhiều xúc cảm. Và cảm xúc thường là nỗi buồn chứ không phải là niềm vui, thậm chí còn là nỗi đau...
Đừng là những "thị dân non"
Nhà báo Kim Dung: Liệu nỗi đau đấy có mang tính chất riêng tư nhiều không, bởi vì sự quan tâm tới người Hà Nội, tới phong cách người Hà Nội, tới "Người Hà Nội" như ca khúc của Nguyễn Đình Thi, nó là điều có thể khiến mọi người phải lưu giữ mãi trong lòng và cũng khơi gợi cảm xúc. Hay đó chính là điều số đông mọi người phải cùng quan tâm? Theo ông giờ đây phong cách người Hà Nội mất đi ở những điểm nào?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Trong phần thi tự luận của cuộc thi "Tìm hiểu Thăng Long- Hà Nội văn hiến và anh hùng", ban tổ chức đã quy định không quá 1000 chữ. Thế nhưng, ai cũng viết thành một công trình dày vượt quy định. Và mỗi bài là cả một niềm tin cậy, mong ước của cả nước với Hà Nội. Thực tế cuộc sống khiến ta không đau không được. Họ đặt niềm kì vọng, trông đợi qua những cuộc thi như thế.
Để Hà Nội thực sự là nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm" thì phải hỏi ngay những công dân Hà Nội, gọi đúng vị trí của họ: Những thị dân. Chúng ta lâu nay quên nhắc người Hà Nội điều đó. Có là thị dân thì anh mới có lối sống, ý thức của người dân ở đô thị... mà ứng xử cho đúng đắn.
Nhà báo Kim Dung: Tuy nhiên, người ta hay nói đến khái niệm thị dân mang nghĩa ích kỉ, nhỏ nhen, ghen tị, giả dối...?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Thực ra thị dân vốn do dịch thuật mà ra, theo nghĩa là người ở đô thị. Thế nhưng một thời, chữ ấy bị biến thành tư sản. Phong trào phản phong, phản đế, chống tư sản đã giết danh thị dân.
Vì thế, việc đầu tiên ta phải giảng giải để hiểu thực chất hai chữ "thị dân", nguồn gốc, và biến thiên của nó. Từ đó, mới đặt ra yêu cầu về phẩm chất, tinh thần, ý thức, tình cảm của người thị dân, tức là người sống ở đô thị. Anh sống ở đô thị thì anh là thị dân, thế thôi, đừng kèm cho nó cái gì xấu vào đấy. Ý thức được điều đó, anh sẽ trở thành thị dân chân chính chứ không phải là "thị dân non", càng không phải là những người tá túc đến đô thị này để kiếm chác. Nói như câu lưu truyền: Hà Nội là bầu vú nhiều sữa, người ta bám vào để đốt, hút, rồi bay về tổ...
Với cách hành xử như vậy, làm sao có thể xây dựng được đô thị này thành nơi "lắng hồn núi sông ngàn năm".Vì thế, nếu có gì để nhắn nhủ với "Người Hà Nội"của Nguyễn Đình Thi, thì tôi chỉ có một điều: Hãy cố gắng làm người thị dân chân chính cái đã.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Có một trường dạy để làm người Hà Nội chỉ là một khát vọng của GS Lê Văn Lan thôi. Chứ tôi sợ rằng, nếu nhà nước có bỏ kinh phí ra lập một ngôi trường như thế, thì học viên có thể có, nhưng anh sẽ không tìm thấy thầy đâu. Lấy ai ra mà dạy?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Chính vì thế mà tôi đang nói tới nỗi buồn và cả nỗi đau.
Còn nữaTuần Việt Nam

