Cái chúng ta đang rất cần hiện nay chính là các ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, phù hợp với năng lực của một nước mới được xếp vào nấc thang đầu tiên của nước có mức thu nhập trung bình.
LTS: Tiếp tục góp ý cho Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Diễn đàn VNR500 xin trân trọng đăng bài tiếp theo của PGS. TS Đỗ Đức Định - Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế - Xã hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Phi - Trung Đông.
Mọi ý kiến tranh luận, đóng góp và phản hồi xin gửi về email: vnr500@vietnamnet.vn hoặc phần Thảo luận ở cuối bài.
Đâu là lợi thế so sánh của Việt Nam?
Yếu tố cốt lõi quyết định sự thay đổi về chất của nền kinh tế Việt Nam là công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CHN, HĐH).
Chúng ta đã và đang trải qua hai cuộc thử nghiệm lớn, thứ nhất là thử nghiệm mô hình CNH lấy công nghiệp nặng làm then chốt từ thập kỷ 1960 đến giữa thập niên 1980; thứ hai là mô hình CNH, HĐH đồng hành với tiến trình đổi mới triển khai từ năm 1986 đến nay.
Cả hai cuộc thử nghiệm này đều đã mang lại một số kết quả nhất định, cái trước tạo ra một số ngành công nghiệp non trẻ, nhưng sơ khai và yếu ớt.
Mặc dù cả hai cuộc thử nghiệm đều đã kéo dài, cuộc thứ nhất 35 năm, cuộc thứ hai 25 năm, tổng cộng 6 thập kỷ, mà đến nay Việt Nam thực chất vẫn là một nước nông nghiệp cận nghèo.
Nguyên nhân chính dẫn tới sự kém thành công của các chiến lược CNH cũ là do chúng ta ít phát huy được những lợi thế so sánh của đất nước và kém tận dụng được những lợi thế mà tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế tri thức mang lại.

Chúng ta đã tiến hành CNH một cách duy ý chí, nôn nóng muốn "đi tắt, đón đầu", không xuất phát từ thực lực của ta, xây dựng chiến lược dựa trên những cái ta không có.
Chúng ta thiếu thốn đủ mọi thứ, từ vốn đến công nghệ, nguồn nhân lực am hiểu công nghiệp và phương pháp quản lý công nghiệp, mà luôn ưu tiên đầu tư cho các ngành, các công trình, công ty to và nặng.
Nhưng chính những cái to và nặng đó đã kéo chúng ta chậm lại, nên ta không những không tiến nhanh hay rút ngắn được, mà đã kéo dài tiến trình CNH.
CNH phát huy lợi thế so sánh độnghai giai đoạn
Ngày nay chúng ta không thể tiếp tục đi theo những mô hình duy ý chí và thiếu căn cứ khoa học như trước. Chúng ta cần phải chuyển sang một một mô hình mới, với tư duy và cách làm mới, đó là thực thi chiến lược CNH phát huy lợi thế so sánh động dựa trên cơ sở thực lực và lợi thế mà ta có thể tiếp cận được, thay cho chiến lược CNH lấy công nghiệp nặng làm then chốt xuất phát từ một mô hình cũ mang nặng tính duy ý chí, thiếu thực tế.
Trong sơ đồ Chiến lược CNH hai giai đoạn trên, hai đường cong mô tả sự phát triển của hai loại lợi thế so sánh bậc thấp và bậc cao, ở giữa là giải phân cách thể hiện mức thu nhập trung bình của quốc gia, đồng thời là chỉ giới phân định hai giai đoạn phát triển trong tiến trình CNH, HĐH.
Với lộ trình trên, ở nước ta trong điều kiện hiện nay, việc ồ ạt đưa ra hàng loạt dự án quy mô lớn như đường sắt cao tốc Bắc - Nam với mức đầu tư sơ bộ tính đã lên đến 56 tỷ USD, việc mở rộng và hiện đại hoá Thủ đô Hà Nội trị giá hàng trăm tỷ USD, 8 nhà máy điện nguyên tử mỗi cái hàng chục tỷ USD, rồi các sân bay, cảng biển, hệ thống nước sạch... cái nào cũng cần số vốn đầu tư từ một đến một vài chục tỷ USD, là không có tính khả thi.
Các công trình, dự án này đều cần thiết, nhưng chỉ nên khởi công xây dựng một cách có chọn lọc kỹ càng dựa trên cơ sở tính khả thi và hiệu quả khi mức thu nhập bình quân đầu người đạt từ 5000 USD trở lên, tổng GDP của cả nước đạt khoảng 500 tỷ USD hoặc hơn nữa.
Chiến lược CNH hai giai đoạn trên đây là giải pháp nhằm đạt mục tiêu rút ngắn tiến trình CNH, HĐH, là cách đi nhanh có tính khả thi cao, huy động được nhiều nguồn lực và sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả nhất.

Mô hình này có thể được thực hiện thông qua việc áp dụng những biện pháp điều chỉnh kịp thời, năng động, tránh duy trì những chính sách, biện pháp quá lâu để rơi vào "bẫy" nước thu nhập trung bình.
Nhưng nói vậy không có nghĩa là chúng ta chỉ nên phát triển một cách tuần tự, chậm chạp từ công nghệ thấp đến công nghệ cao, mà trái lại, có thể phát triển nhanh các ngành hiện đại, nhưng cần có sự chọn lọc cho phù hợp với điều kiện thực tế.
Khi nào có ôtô "made in Việt Nam"?
Một vấn đề lớn khác trong CNH, HĐH là việc xây dựng và thực thi những chính sách công nghiệp hữu hiệu.
Khi đã lựa chọn và xác định được những ngành công nghiệp trọng điểm rồi thì cần tập trung đầu tư và có chính sách hữu hiệu để xây dựng bằng được ngành đó trước khi mở rộng sang ngành khác.
Thực tế cho thấy mặc dù chúng ta đã có nhiều cố gắng, đã nỗ lực để phát triển nhiều ngành công nghiệp, nhưng do đầu tư dàn trải ra quá nhiều ngành trong khi thiếu chính sách hữu hiệu và thiếu nguồn lực cần thiết nên cho đến nay chưa xây dựng được một ngành công nghiệp nào theo đúng nghĩa của ngành công nghiệp.
Lấy công nghiệp ôtô làm ví dụ, những nước công nghiệp mới như Hàn Quốc chẳng hạn chỉ mất từ 15 đến 20 năm là đã có thể sản xuất được những chiếc ôtô được thiết kế và chế tạo ở trong nước, trong khi chúng ta đã mất hơn 20 năm với những cam kết rất hậu hĩnh cho hơn một chục hãng ôtô nước ngoài mà đến cuối năm 2009 hãng có mức nội địa hoá cao nhất (Toyota Việt Nam) chỉ nội địa hoá được 7% giá trị xe so với tỷ lệ cam kết trong giấy phép đầu tư là 30% sau 10 năm.
Còn hãng Suzuki Việt Nam tỷ lệ nội địa hoá đạt được chỉ 3% so với giấy phép 38,2% vào năm 2006; hãng Ford Việt Nam nội địa hoá 2%; những hãng còn lại nội địa hoá khoảng từ 2% đến 4%.
Các ngành công nghiệp khác như tàu thuỷ, sắt thép, điện tử, công nghiệp phụ trợ... đều ở trong tình trạng tương tự, tỷ lệ nội địa hoá chỉ đạt được vài phần trăm.
Tư tưởng muốn nhanh chóng đi lên hiện đại ngay thực chất là một tư duy nóng vội mới, muốn hiện đại hoá ngay, nhưng thiếu một nền tảng công nghiệp cơ bản, muốn tiến nhanh, nhưng thiếu bền vững.
Cái chúng ta đang rất cần hiện nay chính là các ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, phù hợp với năng lực của một nước mới được xếp vào nấc thang đầu tiên của nước có mức thu nhập trung bình. (Trừ một số ít ngành hiện đại nhưng có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao ngay từ đầu như điện tử, viễn thông chẳng hạn.)
Nguyên nhân chính của tình trạng yếu kém này một phần là do chúng ta quá tham vọng muốn xây dựng nhanh nhiều ngành công nghiệp ngay trong thời kỳ chúng ta chưa đủ lực, trình độ phát triển quốc gia, chất lượng nguồn nhân lực, nguồn vốn, công nghệ, dung lượng thị trường, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, trình độ quản lý... tất cả đều dưới khả năng phát triển công nghiệp.
Một phần do chúng ta trông chờ quá nhiều vào lời cam kết của các hãng nước ngoài, trong khi các hãng này chỉ lo chạy theo lợi nhuận, không một hãng nào quan tâm đến viêc phát triển các ngành công nghiệp nội địa của Việt Nam nếu họ không kiếm được từ đó một vài xu tiền lãi.
Đã đến lúc chúng ta phải hành động một cách chủ động, tích cực, mạnh mẽ và dứt khoát hơn, phải đề ra và thực thi những chính sách công nghiệp thích hợp, có tính khả thi cao.
Đây chính là khâu đột phá để tiến tới xây dựng từng ngành công nghiệp, rồi cả nền công nghiệp Việt Nam. Thiếu đột phá về chính sách công nghiệp thì còn lâu Việt Nam mới có thể xây dựng được một nền công nghiệp thực thụ.
Tất nhiên cách làm ngày nay không thể là tăng thuế nhập khẩu từ 100% đến 400% như Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và nhiều nước đang phát triển khác đã làm cách đây 4-5 thập kỷ khi thế giới đang thịnh hành chính sách bảo hộ mậu dịch.
Trong bối cảnh mới, chúng ta cần áp dụng những chính sách, biện pháp ưu tiên thông qua thuế, kích thích kinh tế, cơ sở hạ tầng, đất đai và những ưu tiên khác trong một vài thập kỷ phù hợp với các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế để hỗ trợ cho những hãng có công xây dựng các ngành công nghiệp Việt Nam, tương xứng với công sức và sự đóng góp của họ.
Còn những hãng không có nỗ lực góp phần xây dựng công nghiệp Việt Nam, chỉ đơn thuần chạy theo lợi nhuận riêng thì áp dụng các biện pháp thị trường công bằng, sòng phẳng.
Chúng ta không cần đến 12 hãng ôtô để không làm ra được một chiếc ô tô nào nhãn hiệu Việt Nam, chỉ cần một vài hãng, nhưng phải là những hãng làm ra ôtô chất lượng tốt thực sự "Made in Việt Nam".
Đỗ Đức Định (VNR500)