Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Nghịch lý người Việt ăn độc đến chết, hàng tốt xuất giá rẻ

13/03/2013 5 phút đọc Phạm Thanh
Lâu nay người nông dân Việt vẫn đang phải đối mặt với cái vòng luẩn quẩn: Của tốt ưu tiên dùng để xuất khẩu, nhưng
Nghịch lý người Việt ăn độc đến chết, hàng tốt xuất giá rẻ

Lâu nay người nông dân Việt vẫn đang phải đối mặt với cái vòng luẩn quẩn: Của tốt ưu tiên dùng để xuất khẩu, nhưng giá vẫn rẻ, của để ăn thì hư hỏng, độc hại, dù ưu tiên nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn được xem là quốc sách hàng đầu.

Theo thống kê năm 2012, nước ta xuất khẩu khoảng 1,76 triệu tấn café, thu về 3,73 tỉ USD (tăng cả về lượng và giá trị so với năm 2011). Con số xuất khẩu của ta ngang ngửa với sản lượng café xuất khẩu của Brazil - quốc gia xuất khẩu café số một thế giới, nhưng chất lượng và giá trị café Việt còn kém xa của bạn, Brazil mỗi năm xuất khẩu 1,8 triệu tấn thu về hơn 8 tỉ USD, tiền thu về cao gấp đôi của ta dù số lượng tương đương.

Nói về café VN cũng giống như các loại cây trồng khác, khi đa phần người dân trồng café theo “sở thích”, ít có sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, nên sản lượng, chất lượng đều thiếu ổn định, nếu không muốn nói là kém. Hơn 90% café được xuất khẩu thô, giá trị thấp, luôn bị ép giá trên thị trường café thế giới.

Đặc biệt, giống café VN đang trồng chủ yếu là giống Robusta có giá chỉ bằng một nửa so với giống café Arabica (của Brazil) được thế giới ưa chuộng. Với những vấn đề trên, dễ hiểu café VN xuất nhiều nhưng giá trị chẳng bao nhiêu.

/sites/queviet-drupal/files/remote/953720fbce213e7981689c3b47a48416.jpg

Sản lượng cafe xuất khẩu của Việt Nam đang đứng đầu thế giới, nhưng giá trị chỉ bằng một nửa so với Brazil.

Tất cả những vấn đề trên suy đến cùng, vẫn là người nông dân chịu thiệt, quanh năm trên nương rẫy chăm bón từng gốc café nhưng khi bán lại chả thu được mấy lợi nhuận, nên vẫn nghèo. Giá café hiện nay khoảng 42.000 đồng/kg, một hecta bình quân được 3 tấn, người nông dân thu về 120 triệu đồng. Trừ các chi phí bơm tưới, phân bón, thuốc trừ sâu, công thuê chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển, phơi, xay xát… một năm người trồng chỉ có lãi 15 - 20 triệu đồng/ha. Đó là chưa tính công lao động trong gia đình, nếu tính hết không lỗ là may.

Không riêng gì café, hầu hết các mặt hàng nông sản hiện này của VN đều rơi vào tình cảnh tương tự. Đáng buồn nhất là xuất khẩu gạo. Năm 2012, VN vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới (sau Ấn Độ), với hơn 7,7 triệu tấn, mang về 3,45 tỷ USD, giá này thấp hơn năm 2011, dù tăng hơn về số lượng (năm 2011, VN xuất khẩu 7,1 triệu tấn gạo, thu về 3,65 tỷ USD).

So với Thái Lan, giá trị gạo của VN còn kém xa, khi năm 2012, Thái Lan xuất khẩu 7,3 triệu tấn gạo, nhưng mang về khoảng 4,9 tỷ USD. Giá gạo của Thái Lan xuất khẩu năm 2012 bình quân khoảng 568 USD/tấn, trong khi gạo Việt Nam chỉ ở mức 447 USD/tấn (cùng loại gạo 5% tấm).

Ngay cả so với gạo của Campuchia giá gạo VN vẫn thấp hơn, giá gạo 5% tấm của Campuchia xuất khẩu đầu năm 2013 đang ở mức 480 USD/tấn, cao hơn 75 USD/tấn so với giá gạo cùng loại của VN.

Giá trị của hạt gạo xuất khẩu thấp, cuối cùng người nông dân lại phải bán lúa cho thương lái với giá thấp, cứ vào chính vụ thu hoạch là bị ép giá. Nhà nước đưa ra chính sách thu mua lúa gạo tạm trữ, đảm bảo người nông dân lãi từ 2 - 4 nghìn đồng/kg, nhưng trên thực tế, người trồng lúa vẫn gánh thêm đủ sự khó khăn.

Trong khi đó, bản thân người Việt dùng những thứ thế nào? Lâu nay, người Việt quá quen với khái niệm đồ tốt để xuất khẩu, cái nào không xuất khẩu được thì để tiêu dùng trong nước. Thực tế hiện nay, các cửa hàng có biển “hàng Việt Nam xuất khẩu” gần như một tem bảo đảm cho chất lượng hàng hóa. Tuy nhiên, những loại hàng hóa có mác này không phải ai cũng tiếp cận được, vì giá của nó không hề rẻ so với thu nhập đa phần người dân, có thể cao gấp đôi, ba lần giá mặt bằng chung. Hoặc có rẻ chút thì đó là những sản phẩm bị lỗi ở một điểm nào đó, đối tác nước ngoài không nhận nên loại ra và được bán cho thị trường trong nước.

Thực phẩm làm ra thì dùng đủ thứ chất hóa học để tăng năng suất, người làm chỉ nghĩ sao có lợi nhất, sống chết mặc bay. Tại nhiều vùng nông thôn trồng rau, bao giờ cũng có một thửa ruộng riêng trồng rau nhà ăn, không dùng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật; còn thửa ruộng trồng để bán thì dùng đủ thứ thuốc độc hại, miễn sao rau phát triển nhanh, năng suất cao… Một nghiên cứu mới đây công bố, 90% người dân không chọn được rau an toàn. Ngẫm lại thì thấy, có muốn chọn cũng khó bởi đâu đâu cũng chỉ thấy giá bẩn, rau phun thuốc kích phọt....

Rau củ đã thế, thịt cá cũng chẳng khá khẩm hơn. Lâu lâu lại nghe thuốc biến thịt ôi thành thịt tươi, phù phép thịt lợn thành thịt bò. Chất ung thư, lòng thối tuồn về thành món ngon trên bàn nhậu. Ấy thế nên bài báo giật tít đại ý "người Việt ăn để chết" chẳng khiến dư luận phẫn nộ mà ai ai cũng thấy trong số ấy có mình.

Nghĩ mà đắng lòng cho một đất nước nông nghiệp mà người người nhà nhà canh cánh nỗi lo thực phẩm bẩn độc. Thôi thì đành "ăn để chết" chứ chẳng thể chết vì không ăn.

Phạm Thanh (Phunutoday)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu