Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Kỳ 3: Lộ trình “cải tổ” nền giáo dục ! ?

28/12/2010 11 phút đọc BBT
Việc cải tổ giáo dục tại Việt Nam đặc biệt giáo dục ĐH như ta thấy cần một lộ trình dài hạn. Vấn đề là phải
Kỳ 3: Lộ trình “cải tổ” nền giáo dục ! ?

Việc cải tổ giáo dục tại Việt Nam đặc biệt giáo dục ĐH như ta thấy cần một lộ trình dài hạn. Vấn đề là phải ý thức ta ở đâu, ta phải làm gì để có chánh sách hữu hiệu. Nhưng phải nói công việc phải làm rất là bề bộn, cần thời gian nhất là cần quyết tâm cao độ.

 

Tôi hoàn toàn đồng ý với bản kiến nghị "Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục"  về nhận định như sau :

"Cải cách giáo dục theo phương hướng hiện đại hóa là việc lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ xã hội nên cần có kế hoạch chu đáo, được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ để thực hiện từng bước, từng bộ phận, trong một lộ trình thống nhất do Quốc hội thông qua, tránh đột ngột và xáo trộn gây căng thẳng trong xã hội".


 
Thí dụ áp dụng tiêu chí quốc tế tôi vừa đưa ra trong việc đánh giá chất lượng và chuẩn bị đội ngũ cán bộ giảng dạy tương lai không thể tính theo năm mà phải tính theo thập kỷ.

Nên giữ lại Chuyên tu và tại chức?

Tuy nhiên tôi thấy cũng có những hướng có thể giải quyết ngay mà không tốn nhiều ngân sách lại có hiệu ứng tức thì.  

Tôi xin mạnh dạn đề ra hai ý kiến cụ thể như sau.

Theo tôi, ta nên đào tạo  cấp bằng cho các khóa chuyên tu, tại chức. Theo hình thức vừa học vừa làm nhưng học theo chứng chỉ,tôi hoan nghênh việc mở những lớp bổ túc, những lớp học cộng đồng để cho mọi công dân, ở bất cứ độ tuổi nào, ngay cả khi đã về hưu, cũng có thể tiếp tục học tập, trau dồi kiến thức để sống vui và giúp ích cho xã hội. Nhưng việc cấp bằng đại học chỉ được thực hiện khi các học viên hội tụ và đạt kết quả học tập tập trung thực tế đã hoàn thành đủ số lượng tín chỉ của thời lượng và kiến thức chuyên môn của môn học, ngành học và ta quản chặt đầu ra nhất định phải có kỳ sát hạch đầu ra cuối khóa bằng biện pháp thi,hoặc bảo vệ đồ án một được triển khai theo kỳ hạn hàng năm trên phạm vi toàn quốc như vậy chỉ có thể học thật, nghiên cứu thật và ứng dụng thật và đủ điều kiện  thì đạt  mới được cấp bằng.

Ta không nên tổ chức thi tuyển đầu vào của hệ đại học tại chức và chuyên tu (ở khâu này ta nên đặt điều kiện xét tuyển tiêu chuân đầu vào là phải có bằng TNPTTH chuyên nghiệp các hình thức đào tạo.  Ta thực hiện cải cách thay vào đó là tăng cường kiểm tra chất lượng sát hạch định kỳ theo môn học, ngành học trong quá trình đào tạo và tiêu chuẩn hóa đầu ra.

Sát nhập các cơ cấu nghiên cứu và giáo dục đào tạo

Điều quan trọng khác là phải sát nhập các cơ cấu nghiên cứu và cơ cấu giáo dục đào tạo lại với nhau. Vì những trung tâm nghiên cứu không tham gia đào tạo, hoặc có tham gia thì cũng rất ít, trong khi đó, các giáo sư trong trường đại học lại phải giảng dạy quá nhiều không có thời gian nghiên cứu. Giảng dạy mà không nghiên cứu thì bài giảng sẽ quá đát, trong vòng 5 năm, 10 năm sẽ không còn giá trị nữa. Còn nếu nghiên cứu mà không tham gia đào tạo thì sẽ thật là lãng phí. Vì thế, trừ những viện nghiên cứu chiến lược quốc gia, ta cần sát nhập các cơ sở nghiên cứu và giáo dục tương đồng lại với nhau. Làm như thế ta sẽ tạo điều kiện cho những người làm việc trong những trung tâm nghiên cứu tham gia vào việc giảng dạy, cho phép các nhà giáo ngày đêm đứng lớp có thời gian nghiên cứu.

Ở Bỉ và nhiều nước trên thế giới, theo luật giáo dục, thì một giảng viên phải có 50% thời gian dành cho việc nghiên cứu, mỗi năm phải công bố trên báo chí quốc tế những công trình nghiên cứu. Đây là cơ sở cho việc đánh giá chất lượng nghiên cứu và giảng dạy.  Việc này thực hiện không dễ vì quyền lợi bị động chạm. Nên chăng tách Bộ Đại học ra khỏi Bộ Giáo dục Đào tạo, và sát nhập Bộ Đại học vào Bộ Khoa học Môi trường, để Bộ Giáo dục Đào tạo chỉ lo đào tạo trung và sơ cấp. 



Ngoài ra luật giáo dục ở Bỉ cấm các giáo sư không được dạy thêm, làm thêm ở ngoài quá một ngày trong tuần. Không tuân thủ thì phải thôi việc. Dĩ nhiên, họ trả lương đầy đủ để giới hạn tối đa những vi phạm.   

Chỉ nên có hai hệ thống trường công lập và trường tư thục

Tôi tâm đắc với ý kiến, và đây cũng là ý kiến của phần lớn các nhà giáo tâm huyết là, ta phải song song phát triển giáo dục đào tạo tinh hoa và giáo dục đại trà.

Nhà nước cần đầu tư cho các trường trọng điểm, nâng cao trình độ giáo chức, thường xuyên rà soát và kiểm tra chất lượng để các trường này có điều kiện đóng vai trò chủ lực trong GD&ĐT, đào tạo những tinh hoa cho đất nước.  Ở đây cần cứng đầu vào cùng một lúc chặt chẽ đầu ra, cần duy trì và nâng cao tính bao cấp về ngân sách (Nhưng không bao cấp về quản lý!)...

Bên cạnh đó ta cũng phải tổ chức một hệ thống giáo dục đại trà để đáp ứng nhu cầu học tập của quần chúng nhân dân. Ta phải mở rộng đầu vào, mạnh dạn cho phép hình thành hệ thống trường tư. Ở đây cần có sự rõ ràng, minh bạch. Chỉ nên có hai hệ thống: trường công lập và trường tư thục. Công là công mà tư là tư, không nên nhập nhằng như hiện nay.

Giáo dục phải chăng là hàng hoá ?


 Việt Nam đang có nhiều tranh cải về giáo dục và thị trường. Giáo dục phải chăng là hàng hoá?

Theo ý kiến của tôi giáo dục là một dịch vụ, một thứ dịch vụ bao trùm liên quan đến toàn xã hội. Chính vì vậy mà nước nào trên thế giới cũng coi giáo dục xương sống của phát triển, cũng có quốc sách cho thứ dịch vụ đặc biệt này.

Bởi vậy coi giáo dục như là một món hàng thuần túy là quan điểm, tôi xin lỗi phải dùng một từ hơi cũ, hữu khuynh.  Quan điểm này thường gần gũi các nhà kinh tế và có nhiều ủng hộ tại các nước của khối Anh-Mỹ-Úc...

Tôi xin lưu ý bạn đọc vài điểm sau đây :

Tại Hoa Kỳ, Canada các nước có nhiều trường ĐH tư phát triển sớm và có lẻ qui mô nhất thế giới, tuy có đến 50% ĐH tư nhưng chỉ chiếm lĩnh 20% sinh viên toàn nước. Các sinh viên còn lại phải theo học trường công của các tiểu bang hay liên bang. Ở nước thị trường là vua như nước Mỹ, có nền kinh kế nhất thế giới, có các đại gia tài phiệt thống lĩnh toàn cầu, mà dịch vụ này chỉ cung ứng có thế thôi thì hàng hoá này quả là đặc biệt!

Tại Bỉ, địa bàn tôi biết rõ, có bốn trường ĐH đa ngành có tầm cỡ : Bruxelles, Gent, Liège và Louvain. Sau này thành 6 vì Bruxelles và Louvain bị xẻ làm đôi, một cho tiếng Hà Lan và một cho tiếng Pháp. Liège và Gent là hai trường công lập. Hai trường khác, nguyên thủy là dân lập có ý thức hệ dị biệt như Louvain (phái giáo hội thiên chúa), Bruxelles (phái tự do, xã hội) sau một thời gian phát triển, vì yêu cầu của tình thế, nhất sau khi biến thành các trường ĐH đa ngành, để có thể sống còn, đã dần dần trở thành gần trường công lập.  Nhà nước tôn trọng chế độ tự quản, nhưng nhà nước bao cấp gần như tuyệt đối ngân sách. Năm ngoái 2003, ĐH Louvain-la-Neuve (phần nói tiếng Pháp của ĐH Louvain) có 21 ngàn sinh viên, có ngân sách là gần 400 triệu đô la (GDP của Việt Nam là khoảng 40 tỷ đô la!) và nhà nước phải rót về 75% ngân sách. Học phí thu từ sinh viên chỉ vỏn vẹn có 4% ngân sách và phần còn lại là hợp đồng dịch vụ, dự án nghiên cứu công nghệ... ĐH Liège của chúng tôi có 14 ngàn sinh viên, nhà nước cũng rót về một ngân sách tương tự, tỷ lệ thuận theo số sinh viên ghi tên!

Tại toàn châu Âu (Pháp, Đức, Ý....) trường công lập là chính, các trường tư thục gần như không đáng kể.

Ta thấy như thế, tại những nước có trình độ phát triển cao nhất thế giới, có nền kinh tế thị trường liên tục từ ngày lập nước tới ngày nay, mà GD&ĐT gần như toàn bộ nhà nước phải bao biện ngân sách. Tại sao thế ? Tại vì chỉ có nhà nước mới có thẩm quyền, uy tín, tài lực đảm đương tính công bình dân chủ của quốc sách giáo dục : Bình đẳng trong cơ may, ai cũng có thể đi học, đạt trình độ nếu có năng khiếu.

Không có nhà nước, không có quyết tâm của toàn dân, thì không thể có nền học vấn có đủ chất lượng để duy trì vị trí hàng đầu của các nước này trên thế giới.

Bởi vậy ta không nên quá lo ngại cho việc có mặt của các trường tư thục ngay cả có yếu tố 100% nước ngoài.

Vấn đề đặt ra là phải có luật lệ hẳn hoi minh bạch để có phương tiện can thiệp kịp thời, tránh những chệch hướng có thể xảy ra. Theo tôi, việc quan trọng cần tránh nhất chính là đừng để cho giáo dục trở thành hàng hóa thuần tuý.



Những tiêu cực hiện hữu đã xảy ra tại Việt Nam tại các trường dân lập (chất lượng kém, lợi nhuận cao nhưng sử dụng không đúng chổ, mất đoàn kết vì chia chác…) một phần vì ta không đề phòng trước, kịp thời xây dựng một khung pháp lý cần thiết. Mặt khác vì ta cho phép một cách nhỏ giọt việc ra đời của các trường dân lập, vô tình hay hữu ý, duy trì cơ chế độc quyền, làm mất cân bằng giữa cung và cầu.

Việt Nam nên bổ sung bộ luật doanh nghiệp, cho phép ra đời những tổ chức dân lập, tổ chức xã hội không có mục đích làm tiền (sans but lucratif). Các hội ái hữu, các hội hữu nghị, hội cựu sinh viên học sinh các trường, hội khuyến học…là những tổ chức thuộc loại này. Các ĐH tư thục sẽ cũng thuộc loại này. Chú ý là không có mục đích làm tiền không có nghĩa là bất vụ lợi. Các ĐH tư thục có phúc lợi nhưng không được dư tiền, chia lãi. Mỗi năm ngân sách chi thu phải cân bằng. Các doanh nghiệp tham gia GD&ĐT sẽ được miễn thuế, sẽ có mặt trong Hội đồng quản trị, sẽ có ảnh hưởng trong việc mở mang ngành nghề, trong nội dung chuyên ngành và ưu tiên có được cộng tác viên mình cần, được đào tạo như mình muốn, hữu hiệu cho việc điều hành và phát triển doanh nghiệp. Phần lãi của trường phải được đầu tư cho việc nâng cao chất lượng đào tạo (tăng lương nhà giáo trong khuôn khổ tối đa cho phép, mua sắm thiết bị, mở mang phòng ốc…), tăng cường qui mô, phát triển ngành nghề…

Bộ GD&ĐT nên hoàn tất luật trường tư theo định hướng trên, nhưng thoáng trong việc quản lý để nhiều ĐH khác sớm ra đời. Yếu tố cạnh tranh tích cực, lành mạnh sẽ sớm có hiệu ứng theo hướng có lợi cho người dân. Các ĐH tư phải có một lộ trình hẳn hoi là sau một thời gian thoả đáng (10 năm?) phải trở thành đa ngành, thích ứng với yêu cầu công nghệ hóa hiện đại hóa nuớc, các ngành khoa học cơ bản, các ngành công nghệ hiện đại… Theo lộ trình này thì những ĐH tư không nghiêm túc sẽ bị thị trường đào thải thôi.

Nguyễn Đăng Hưng Tamnhin.net

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu