Đến làng Ước Lễ những ngày sau Tết chỉ thấy người dân rục rịch lên đường đi làm ăn xa. Cảnh ly hương vẫn thường diễn ra ở đây. Họ mang tâm trạng của những người chuẩn bị bước vào vụ làm ăn mới. Các cụ già mặt mũi ỉu xìu ở lại trong nỗi buồn cô quạnh. Nhiều cụ già của làng, xã phải ở một mình, chịu cảnh cơm niêu nước lọ. Chỉ có những người con dân làng Ước Lễ xã Tân Ước, Thanh Oai, Hà Nội mới hiểu được nỗi niềm này.
Rủ nhau… xa quê
Nhiều ông già, bà già vác cuốc ra đồng một mình chuẩn bị gieo cấy cho vụ xuân, than thở rằng: giàu có cũng để làm gì, chết đi cũng chỉ được một chiếc quan tài. Vậy mà, tiền vẫn kéo con dân của làng đi xa, ly hương.
Trước Tết, cả xã Tân Ước vắng hoe, giờ Tết xong, người Tân Ước lại nô nức đi làm ăn xa. Họ “cõng” theo nghề giò chả, nem ruốc đã thành thương hiệu bao năm đi khắp mọi miền để làm giàu. Xóm làng chỉ còn lại các cụ già và trẻ nhỏ, những người chân yếu tay mềm. Các cụ già bảo, mấy làng ở xã Tân Ước này chỉ đông đủ vào 2 ngày Tết thôi, mồng ba đã đi làm kiếm tiền rồi. Nhà cửa, đồng điền vắng ngắt, lạnh lẽo.
Xã Tân Ước có 4 làng: Ước Lễ, Tri Lễ, Phúc Thụy và Quế Sơn với 1.930 hộ (8.367 khẩu). Với nghề truyền thống của cha ông để lại, đa phần người dân Tân Ước theo nghề làm giò chả, bánh chưng, nem ruốc, trong đó, thương hiệu của Ước Lễ lớn hơn cả, tuy là làng nhỏ nhất, với số dân ít nhất. Cụ Nguyễn Công Khả 74 tuổi, người của làng Ước Lễ nói: “Những gia đình đi làm ăn xa về làng kéo theo họ hàng, anh em, trẻ nhỏ đi cùng. Dân số làng, xã cứ thế giảm dần. Nhiều nhà bị bỏ hoang. Trước đây, cả xã chỉ có 600ha đất nông nghiệp, chủ yếu là cấy lúa nên thu nhập cũng chẳng ăn thua gì. Làng tôi đã đi làm xa hơn hai phần ba rồi”.
Ông Nguyễn Trọng Bình - Phó Chủ tịch UBND xã Tân Ước có hai con trai hiện đang lập nghiệp tại TP. Biên Hòa (Đồng Nai). Người con cả của ông Bình theo nghề của cha ông, làm giò chả. Mặc cho vợ chồng ông thuyết phục nhiều lần, anh cũng không chịu về quê. Công việc làm ăn thuận lợi, các con ông đón luôn cả mẹ vào Nam để phụ giúp. Vì công việc của UBND xã, ông Bình phải ở lại sống một mình, đơn chiếc. Xã Tân Ước nói chung, làng Ước Lễ nói riêng, cảnh cơm niêu nước lọ như ông Bình không phải là hiếm. Có đến 90% số hộ đi làm ăn xa của Tân Ước lập nghiệp bằng nghề truyền thống của làng. Lúc đầu, chỉ vợ hoặc chồng đi, sau khi thuê nhà, ổn định chỗ ở và các mối làm ăn, họ đem theo người thân, con cái đi cùng, an cư ở nơi mới. Gia đình nào khá giả, làm ăn thuận lợi thì thuê người giúp việc không thì nhờ ông bà lên thành phố trông giúp. Số còn lại phải mang con về quê nhờ ông bà trông nom. Ông Nguyễn Văn Tuấn, năm nay đã hơn 70 tuổi cũng chịu cảnh cơm niêu nước lọ, ông thở dài: “Khi các cháu còn nhỏ, chúng đưa về cho ông bà chăm bẵm, được vài năm khi bọn trẻ cứng cáp, bố mẹ lại về đón đi, bảo là lên thành phố có điều kiện để học hành tốt hơn. Công việc bộn bề, chúng đón luôn cả bà nhà tôi đi để phụ giúp. Thành ra, việc đồng áng tôi làm không hết phải thuê người. Cuộc sống buồn chán lắm”. Giáp Tết, những hộ làm ăn xa còn về quê kéo theo họ hàng, anh em đi phụ giúp. Cuối ngày 30 Tết mới tìm về, rồi mấy hôm lại đi. Vậy nhưng, vụ Tết là những ngày làm ăn được nhất, nhiều hộ gia đình chỉ trong tháng giáp Tết mà bằng làm ruộng cả năm.
Đón xuân Kỷ Sửu 2009 này, nhiều gia đình trở về quê hương đầy đủ. Họ mua sắm, ăn uống linh đình. Nhưng cũng có những người không được về quê, vì phải ở lại nơi đất khách để “trợ chiến”, vừa trông nhà. Thành ra, có ông già phải ăn Tết một mình, kèm theo mấy cuộc điện thoại đường dài của con cháu. Nhìn đám con cháu chuẩn bị ra đi từ hôm mồng ba, mồng bốn, nhiều cụ bà ứa nước mắt. Vì nhớ con, phải đợi đến Tết năm sau các con mới tụ về.
Cổng làng Ước Lễ. |
Mỗi năm, hàng tỷ đồng đổ về Ước Lễ
Cụ Khả kể lại: “Thập kỷ 70 của thế kỷ trước, khi còn chế độ bao cấp, mọi thứ đều theo tem phiếu, làng tôi gần như không thể hành nghề cổ truyền này. Tôi và một số người của Ước Lễ vẫn cố gắng duy trì. Có lẽ vì thế, sự lĩnh hội các bí quyết làm nghề của tôi đã đạt đến mức hoàn hảo. Nhiều người trong làng đến nay vẫn tôn tôi là nghệ nhân hàng đầu. Rồi cả làng đã bám trụ và làm giàu từ nghề giò chả, ly hương bởi giò chả”. Ông Nguyễn Văn Bình lên Hà Nội lập nghiệp bằng hai bàn tay trắng, đến nay đã trở thành một trong những người giàu nhất làng. Ông cũng chính là người đã đảm nhận thực hiện chiếc bánh chả lớn nhất nước ta, được triển lãm tại Hội chợ triển lãm Giảng Võ (Hà Nội) năm 2003. Có những người mang cả ra nước ngoài như ở châu Âu, châu Đại Dương... Xưa kia, thợ làm giò ở Ước Lễ thường phải làm thủ công, nhưng giờ đây, công đoạn giã đã được cơ giới hóa bằng máy. Nhưng không vì thế mà giò kém ngon. Bà Nguyễn Thị Luân (nay đã mất) mang cả nghề làm giò chả cổ truyền sang tận California (Mỹ) và làm giàu ngay tại đất nước cách quê hương nửa vòng trái đất. Cách đây mấy năm, khi về thăm quê, bà Luân đã ủng hộ trên 200 triệu đồng xây dựng trường tiểu học của xã; xây dựng nhà cho hội người mù của huyện... Ông Nguyễn Văn Quang đang cư trú tại TP. Đà Lạt cũng ra đi từ bàn tay trắng. Bằng nghề làm giò chả, ông Quang đã mua được ngôi nhà khang trang, sắm được nhiều tiện nghi đắt tiền. Ông cũng đóng góp tiền cho quỹ khuyến học, quỹ xây dựng các công trình công cộng của làng, xã. Uớc tính mỗi năm, dân làng Ước Lễ thu vào túi cả chục tỷ đồng. Thu nhập bình quân của các thôn khác trong xã chỉ đạt khoảng 3,9 triệu đồng/người/năm nhưng con số này ở làng Ước Lễ khoảng 12 triệu đồng. Giữ gìn được nghề, sống được từ nghề và có thể làm giàu bằng nghề là điều đáng mừng trong xu hướng phát triển xã hội hiện nay.
Ông Nguyễn Như Ước - Chủ tịch UBND xã cho biết: “Xã Tân Ước có hàng ngàn người đang làm ăn trên khắp miền đất nước. Ba làng của Tân Ước đã được UBND tỉnh công nhận làng nghề truyền thống: Quế Sơn, Chi Lễ (nghề nón lá, mây tre đan); Ước Lễ (nghề làm giò chả). UBND xã đang làm thủ tục công nhận làng nghề giò chả cho Phúc Thụy”.
Làng Ước Lễ với nghề truyền thống làm giò chả. |
Một hệ lụy buồn
Dù đời sống của người dân Ước Lễ ở nơi đất khách khấm khá thì họ cũng đang đối diện với hệ lụy buồn. Trước hết là cảnh xóm làng cô quạnh. Đi qua cổng làng Ước Lễ, không khí buồn thiu vắng lặng. Chiếc cổng làng có niên đại cả trăm năm hằng ngày vẫn buồn tẻ vì ít người qua lại. Ngôi đình cổ kính, rêu phong được che phủ bởi hàng chục cây cổ thụ. Bước qua cổng làng là một không gian im ắng đến lạ thường... Những tháng cuối năm, ở các nơi khác là thời gian các đôi trai gái đua nhau làm lễ thành hôn. Nhưng ở Ước Lễ thì khác. Giờ làng Ước Lễ gần như không có đám cưới vào dịp cuối năm bởi chẳng còn ai bám trụ đất quê cả.
Xưa kia, làng nghèo lắm. Cả làng giã giò thuê bằng tay, vất vả, thu nhập lại thấp. Một người đức độ đã khai hoang lập làng và truyền lại cho con cháu Ước Lễ hàng trăm năm nay những bí quyết làm giò chả vừa thơm ngon, vừa dễ bảo quản. Từ đó, con cháu Ước Lễ đã kế tục và gìn giữ được nghề, dù đã trải qua không ít biến động. Có thể nói, việc lao động nông thôn di cư lên thành phố tìm việc làm để mưu sinh đã gây rất nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương trong công tác quản lý nhân, hộ khẩu. Chủ tịch xã Nguyễn Như Ước tâm sự: “Một trong những vấn đề làm đau đầu lãnh đạo xã là số người di cư đều trong độ tuổi lao động. Ở nơi mới, họ vẫn trên danh nghĩa là tạm trú và không cắt khẩu ở quê, chính vì vậy, khi có thanh niên mắc phải các tệ nạn xã hội, công an lại chuyển công văn về nơi thường trú. Chính chúng tôi cũng chẳng biết họ ở đâu để quản lý cả”.
Hệ quả nữa từ việc ly dời quê hương ở Ước Lễ là các đối tượng thanh niên xa quê, mắc các tệ nạn xã hội. Khi họ trở về làng trở thành những con nghiện vật vờ, thành đồ đệ của “nàng tiên nâu”. Ngoài ra, việc quản lý nhân khẩu sẽ rất khó khăn cho cán bộ xã. Chưa kể đến việc làm nghĩa vụ quân sự của thanh niên, rồi nạn trộm cắp tràn vào làng, khi mà làng không còn người khỏe mạnh nữa thì một số kẻ gian tha hồ hoành hành, làm mất trật tự xã hội trong xã. Giàu có là quý, nhưng giàu có như thế nào và sẽ để lại được gì, vậy mới quan trọng.
Phóng sự của Vãn Tình (SK&ĐS)