Tôi chưa thấy nơi nào ở nước ta (và có lẽ cả trên thế giới) lại để cho một làng có hàng trăm dân sống ngay trong vùng lõi của vườn quốc gia như ở Vườn quốc gia Yôk Đôn (Đắc Lắc) hiện nay.
Chính vì sự tồn tại vô lý của cái làng này mà gây ra biết bao hệ lụy đối với công tác quản lý bảo vệ rừng ở đây, khiến tài nguyên rừng bị mất mát lớn; đồng thời cũng đẻ ra khối chuyện vô lý khác khiến Nhà nước tốn nhiều chục tỉ đồng mà hiệu quả kinh tế - xã hội chẳng thu được là bao...
Một chút về Vườn quốc gia Yôk Đôn
Vườn quốc gia (VQG) Yôk Đôn là VQG lớn nhất nước ta hiện nay, rộng tới 115.545ha. Đây cũng là VQG duy nhất ở nước ta có hệ sinh thái rừng khộp đặc trưng, rất giàu có về động - thực vật. Bước đầu các nhà khoa học đã thống kê được 63 loài động vật có vú, 196 loài chim, 40 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư, 464 loài thực vật. Đây cũng là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật có nguy cấp tuyệt chủng mang tính toàn cầu như bò xám, voi Châu Á, hổ, sói lửa, chà vá chân đen...; có rất nhiều thứ gỗ quý như cà te, trắc, cẩm lai, giáng hương...
Vì thế, sau khi đã moi móc, tàn phá gần hết gỗ quý, gỗ tốt trong các rừng sản xuất ở tỉnh Đắc Lắc thì VQG Yôk Đôn trở thành mục tiêu tấn công thường xuyên của các loại “lâm tặc” to - nhỏ, lộ mặt và giấu mặt. Đấy cũng là điều đã được báo chí đề cập rầm rộ thời gian vừa qua.
Nhưng... có một điều vô lý, sờ sờ trước mắt, tồn tại từ khi thành lập VQG này đến nay, gây biết bao hệ lụy đối với vườn lại chẳng được ai đề cập đến. Ấy là việc tồn tại của làng Đ’răng Phôk (tiếng bản địa gọi là buôn) ngay giữa vùng lõi của vườn.
| Làng Đ'răng Phôk nằm giữa vùng lõi của vườn quốc gia, nhưng đang mất dần dấu vết của làng rừng. |
Đến Đ’răng Phôk
Từ TP.Buôn Ma Thuột muốn vào làng Đ’răng Phôk phải vượt chặng đường khoảng 70km. Ông Y Thông Khăm Niê Kđăm - Phó Chủ tịch UBND xã Krông Na - nhận xét về đời sống của dân làng bằng lối phát âm tiếng Việt thiếu dấu, lại rề rà, khiến tôi phải nghiêng đầu, căng tai lên mới nghe nổi: “Thì... ngày xưa... họ khổ. Giờ họ... cũng... khổ thôi... Xã mình... vừa tổ chức... điều tra hộ nghèo, theo... hướng dẫn mới... thì có 49 hộ trên tổng số 96 hộ của Đ’răng Phôk bị nghèo. Mà họ... nghèo thật đấy, nhà báo ơi. Nhiều nhà.... trong nhà chỉ có cái giường nằm... cái nồi, bếp và mấy thứ lặt vặt thôi... Nhiều nhà... còn không có cái lúa... cái bắp để ăn cho no cái bụng, phải chịu đói... Họ nghèo lắm...”.
“Nhưng bây giờ buôn đã được Nhà nước đầu tư gần 18 tỉ đồng để làm hồ trữ nước, hệ thống mương tự chảy, cung cấp đủ nước cho gần 60ha ruộng nước 2 vụ. Sao đồng bào vẫn nghèo đói?” - tôi hỏi ông phó chủ tịch. Ông trĩu mặt xuống, lắc lắc đầu, miệng nói mà mắt thì nhắm lại: "Chuyện này... kể dài lắm và... cũng khó nói lắm... Nhà báo... cứ vào buôn... rồi sẽ biết...".
Đường vào Đ’răng Phôk bây giờ đã là đường nhựa phẳng lỳ. Một cán bộ kiểm lâm của vườn cho tôi biết: Đây là con đường mà Bộ NNPTNT đầu tư, vừa phục vụ cho dân Đ’răng Phôk nhằm phát triển kinh tế - xã hội, để đồng bào không phá rừng, vừa phục vụ cho công tác quản lý vườn... Nhưng nó cũng có tác dụng hai mặt, giao lưu tốt, thì việc vận chuyển lâm sản trái phép của “lâm tặc” cũng “ngon” hơn...
Trưởng buôn Đ’răng Phôk là Y Phút Bu Đăm, tên thường gọi là Ma Lại. 50 tuổi, nhưng Ma Lại nhìn thoáng qua như một thanh niên. Hỏi Ma Lại: “Gia đình làm ăn thế nào...?”, chưa kịp nghe hết câu hỏi, Ma Lại đã nói ngay: “Mình thì dư ăn. Còn có để bán và cho người khác khi họ thiếu. Mình làm 1,2 héc (ha) ruộng. Mỗi vụ 5 tấn. Hai vụ có 10 tấn. Nhà có 3 khẩu thôi. Thoải mái ăn...”.
Hỏi tình hình của buôn, Ma Lại tràng giang: “Thì cũng có người no, người đói. Ai siêng làm, cái đầu biết tính toán, đừng rượu chè nhiều quá thì no thôi. Vì ở đây sẵn cái việc làm ra tiền, sẵn cái thứ hái về, bắt về nhà... Có thể đi làm ruộng, làm rẫy, đi chài lưới trên sông Sê Rê Pôk, đi lượm chai cục trong rừng về bán. Mùa khô này sông cạn cá ngon nhiều dễ đánh bắt lắm. Hoặc mình có thể vào rừng lượm chai cục kiếm được vài ba trăm ngàn đồng/ngày...”. Tôi chêm vào lời Ma Lại: “Hoặc đi chặt khúc gỗ hương, gỗ cẩm trong rừng đưa về bán được năm, bảy trăm ngàn...”.
Ma Lại tiếp lời tôi ngay: “Cũng có người đi chặt gỗ, nhưng chủ yếu là bọn thanh niên biết cách ăn chơi, biết tiêu tiền ở ngoài thị trấn đi chặt trộm gỗ thôi. Còn người có tuổi như mình, không biết cách ăn chơi thì đơn giản nhất là đi nhặt chai cục, cứ ngày đút túi vài ba trăm ngàn, chẳng vi phạm gì mà vẫn có tiền đủ ăn xài...”. Tôi ngắt lời ông: “Chai cục là gì vậy?”. Ông cười, ra vẻ ta đây: "Nhà báo mà chưa biết chai cục à? Là nhựa của cây cà chít. Cây cà chít bị sâu đục, bị bệnh tật thì chảy ra nhựa. Nhựa khô đóng cục lại. Đi nhặt về bán cho người cần mua. Mỗi ký tám, chín ngàn đồng. Người ta mua về để làm phụ gia làm ra cái sơn, làm ra cái keo trát thuyền...".
Tôi ngắt lời Ma Lại: “Vì sao nước đã đủ tưới cho ruộng cả hai vụ mà nhiều hộ vẫn không chịu làm ruộng, có hộ bỏ hoang, có hộ cho người Kinh hoặc đồng bào miền núi phía bắc thuê?”. Ma Lại thật thà: “Ở đây dễ kiếm tiền mà. Xuống sông, hay vào rừng làm việc khác, kiếm tiền dễ hơn làm ruộng. Thế nên mọi người ở đây không thích làm ruộng đâu...”. Nói vậy rồi Ma Lại cười hề hề.
Người biết làm ruộng để có thu nhập khá rất ít, nên ruộng đồng ở làng Đ'răng Phôk vẫn thưa thớt người làm.
|
Vô lý
Ngày 21.6.1992, VQG Yôk Đôn được Bộ NNPTNT chính thức ra quyết định thành lập... Lúc ấy diện tích của vườn chỉ 58.200ha. Đến ngày 13.3.2002, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định mở rộng diện tích vườn lên 115.545ha, sáp nhập cả Lâm trường Đ’răng Phôk vào vườn. Vậy là làng Đ’răng Phôk (lúc ấy chỉ có 24 hộ với khoảng 130 dân, đa số là đồng bào M’Nông) trở thành làng nằm trong vùng lõi của vườn.
Theo ông Nguyễn Còn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm của vườn, người đã có 26 năm gắn bó với vùng đất Đ’răng Phôk - thì: “Ngày ấy vườn cũng đã xây dựng phương án di dời số dân này ra ngoài vườn. Nhưng rồi một vị lãnh đạo tỉnh Đắc Lắc không đồng ý, cho rằng để đồng bào ở lại sẽ có lợi hơn cho xã hội và cho vườn... nên việc di dời dân Đ’răng Phôk đã không diễn ra”.
Lại có vị lãnh đạo tỉnh cho rằng: Sở dĩ đồng bào chặt gỗ bán vì thiếu ruộng nước để sản xuất, vì đường sá đi lại khó khăn. Nếu đi lại thuận lợi, có ruộng nước sản xuất, mua bán trao đổi sản phẩm dễ dàng, thu nhập ổn định thì đồng bào sẽ không phá rừng nữa... Thế là năm 2005 vườn lại được đổ vào hơn chục tỉ đồng để làm đường nhựa phẳng lỳ từ tỉnh lộ 1 (Đắc Lắc) vào tận làng Đ’răng Phôk. Sau đó đến năm 2007 lại được đổ thêm gần 18 tỉ đồng nữa để làm đập nước, làm hệ thống mương tự chảy dài hơn 5 cây số, đưa nước về tưới cho cánh đồng rộng gần 60ha của buôn...
Nhưng... từ đó dân số của buôn cũng tăng vùn vụt. Từ trên 2 chục hộ, nay đã lên tới 96 hộ, với gần 420 nhân khẩu, trong đó có 10 hộ người Kinh. Nhiều hộ vẫn tiếp tục sống bằng hái lượm tự nhiên hoặc chặt trộm gỗ bán; ruộng nước được chia không làm, bán hoặc cho thuê. Sáng 22.2, chúng tôi ra thăm cánh đồng của buôn, rộng gần 60ha, nhưng chỉ có lèo tèo 4-5 người làm. Một phụ nữ tên là Bàn Thị Xuân (dân tộc Dao) cho biết: “Mình ở xa cách đây hơn chục cây. Đây là ruộng mình thuê lại của dân M’Nông ở đây. Mỗi năm phải trả 50kg thóc/sào. Dân ở đây họ không muốn làm ruộng đâu. Họ muốn đi rừng kiếm tiền dễ hơn...”.
Đ’răng Phôk trở thành điểm tập kết, trung chuyển và là chỗ dựa thuận lợi cho lâm tặc hoạt động. Một số hộ người Kinh cũng vào ở trong làng để thu mua thú rừng và gỗ quý như cà te, giáng hương giấu trong rừng, chờ lúc “nối mạng” thì chở ra cho các đầu nậu tiêu thụ. Đã có những lâm tặc đầu tư cả chục máy cưa xăng cho dân làng, sau đó mua lại gỗ quý theo giá rẻ.
VQG phải thành lập tới 2 trạm kiểm lâm để ngăn chặn việc vận chuyển lâm sản trái phép từ Đ’răng Phôk ra. Nhưng tình hình chặt phá, vận chuyển gỗ quý của vườn vẫn rất phức tạp. Một kiểm lâm của vườn nói với chúng tôi: Khi lâm tặc đơn lẻ năm - bảy người thì còn xử lý được. Còn khi lâm tặc lên tới hai - ba chục người, thậm chí cả làng thì kiểm lâm cũng bó tay...
Làng Đ’răng Phôk nằm trong vùng lõi của vườn đã kéo theo nhiều hệ lụy tai hại cho vườn - ấy là việc quản lý rừng hết sức khó khăn; còn ngân sách thì thêm phần tốn kém, mà hiệu quả kinh tế - xã hội lại... bét be.
Giải quyết thế nào?
Đổ vào một làng nhỏ gần ba chục tỉ đồng tưởng sẽ yên được dân, tưởng họ sẽ chăm chỉ làm ruộng mà từ bỏ việc phá rừng, nhưng kết cục là như vậy. Anh cán bộ kiểm lâm của vườn ngồi nhẩm với tôi: Từng ấy tiền, hồi ấy nếu quyết tâm di dời gần ba chục hộ dân ra khỏi vườn thì chắc chắn sẽ xây dựng được một làng có nhà ở đẹp, hạ tầng cơ sở khang trang ở ngay bên tỉnh lộ 1. Nhưng các đồng chí lãnh đạo đã “bắn một mũi tên không trúng đích”. Bây giờ sự việc đã như người đàn bà dở duyên... rất khó giải quyết.
Một cán bộ của VQG thì thẳng thắn hơn: Muốn bảo vệ được những diện tích rừng còn lại của vườn ở vùng này thì nhất định phải dời cái làng này ra khỏi vườn. Còn như Nhà nước cứ đổ tiền vào đây để gọi là giúp đồng bào phát triển sản xuất, ổn định đời sống để đồng bào không phá rừng... thì khác gì đổ tiền xuống sông Sê Rê Pôk...