Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Toạ độ khát Huổi Nguyên

16/04/2011 9 phút đọc La Minh - Công Kiên
Những năm gần đây, người tứ xứ mang phương tiện máy móc cùng với dân bản địa ngày đêm cày xới, móc khoét núi rừng,
Toạ độ khát Huổi Nguyên

Những năm gần đây, người tứ xứ mang phương tiện máy móc cùng với dân bản địa ngày đêm cày xới, móc khoét núi rừng, khe suối tan hoang làm cho nguồn nước trong xanh giờ đỏ quạch.

 

Người dân vùng “bốn Yên, một Nga” (gồm các xã: Yên Na, Yên Tĩnh, Yên Hoà, Yên Thắng và Nga My) của huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An hiện lâm vào cảnh không còn tìm đâu ra nguồn nước sạch để dùng.

 

Từ bản Pồ, xã Tam Quang, huyện Tương Dương, theo tỉnh lộ 748 vừa mới mở nối sang quốc lộ 48, chúng tôi đến vùng đất “bốn Yên, một Nga”. Trước đây, khi con đường này chưa mở, lội bộ ven theo con sông Huổi Nguyên trong xanh len lỏi giữa đại ngàn hùng vĩ; con sông này bắt nguồn từ dãy rừng nguyên sinh Pù Huống, đi qua Nga My - xã cực bắc của huyện Tương Dương chảy về đến bản Coọc, xã Yên Hoà lại tiếp nhận thêm nguồn nước của khe Chà Hạ và Nậm Ngần hợp thành sông Huổi Nguyên.

 

Từ đây, sông chảy theo ranh giới hai xã Yên Na và Yên Thắng rồi hợp lưu với sông Cả ở bản Đình Tiến, xã Tam Đình. Dọc sông Huổi Nguyên và toàn bộ hệ thống khe suối vùng này khá dồi dào trữ lượng vàng sa khoáng. Theo các già bản người Thái, vùng này được mệnh danh là vùng nước vàng, nước bạc. Vậy mà bây giờ...

 

Dùng nước từ… hố

 

Lần trở lại này, dù đã nhiều lần nghe thông tin, vùng đất này lâu nay đang “đại náo” bởi “vàng tặc”, nhưng chúng tôi vẫn không khỏi bất ngờ bởi mức độ tàn phá huỷ hoại nghiêm trọng do khai thác vàng ồ ạt. Lòng sông ngổn ngang, bề bộn, dòng nước ngầu đục len lỏi giữa cơ man nào bùn đất, sỏi đá. Ghé thăm các bản người Thái nằm dọc sông Huổi Nguyên, qua những bãi khai thác vàng bị đào đi xới lại nham nhở, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những chiếc hố nông hình tròn, có đường kính từ 50-70cm. Dưới đó là một làn nước nhờ nhờ và nổi đầy váng, thỉnh thoảng dân bản đem can nhựa hoặc xô ra lấy nước đưa về dùng.

 

Người dân phải đào “hố giếng” bên nguồn nước ô nhiễm. 	Ảnh: L.M
Người dân phải đào “hố giếng” bên nguồn nước ô nhiễm. Ảnh: L.M

 

Hỏi bà con sao có hệ thống nước sạch nhưng không dùng thì được biết hệ thống ống dẫn nước tự chảy thuộc dự án của Chương trình 135/CP được lắp đặt từ những năm 2001-2002 do không được bảo quản tốt đã bị rò rỉ, hư hỏng khá nhiều, nước không thể về hết các bể chứa. Sông suối bị ô nhiễm nặng nề bởi nạn khai thác vàng, nên cực chẳng đã bà con các bản dọc sông, suối phải ra cạnh bờ suối, bãi sông đào tạm một cái “hố giếng” vừa nhỏ, vừa cạn để nước bên ngoài thẩm thấu, gạn đi phần nào bùn đất để lấy về phục vụ sinh hoạt.

 

Gặp chị Lương Thị Khoa - bản Trung Thắng, xã Yên Thắng, đang lấy nước tại “hố giếng” của mình - chị cho biết: “Dân bản phải đào hố lấy nước như thế này hơn một năm nay rồi, cả bản chỉ còn một bể có nước, nhưng đi lấy xa lắm, lại đông người phải chờ lâu. Chưa thấy khi mô phải khổ vì thiếu nước sạch như thế này”. Tại trung tâm xã Yên Thắng, cạnh trụ sở UBND xã có một tốp thợ xây dựng từ dưới xuôi lên thi công công trình trạm y tế xã. Anh phụ trách hậu cần cho biết, vấn đề khó khăn, nan giải nhất với họ ở đây vẫn là nước sạch để dùng. Cũng như dân bản, họ phải ra bãi sông đào “giếng” để bơm về, rồi tiếp tục để nước đi qua hệ thống lọc.

 

Thế nhưng lúc đun sôi để nguội vẫn đầy váng, dưới ấm cặn đọng từng lớp, đôi khi uống còn ngửi thấy mùi dầu. Thấy thế, một số người sợ cảnh “rừng thiêng, nước độc” đã bỏ về xuôi. Người dân bản Trung Thắng còn cho biết, trước đây bà con còn có khe Chon để chiều chiều ra tắm rửa, nhưng nay khe Chon cũng đã bị đào xới để tìm vàng làm nước vẩn đục, mỗi lần tắm xong có cảm giác xót ngứa nên không ai dám ra tắm rửa nữa. Một cán bộ y tế xã Yên Thắng cho biết, thời gian qua số lượng người dân ở đây mắc bệnh liên quan đến đường ruột, mắt và bệnh ngoài da tăng lên đột biến.

 

Khai thác vàng sa khoáng ở Nặm Chà Hạ, thuộc xã Yên Hoà, huyện Tương Dương làm ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
Khai thác vàng sa khoáng ở Nặm Chà Hạ, thuộc xã Yên Hoà, huyện Tương Dương làm ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

 

Sơn nữ soi mình…chỉ còn trong ký ức!

 

Chúng tôi ngược lên bản Xốp Khấu, gần trưa, thấy trẻ con, trung niên và cả người già trong bản đi xe máy, xe đạp, đi bộ cõng gùi mang can nhựa tới bể đầu bản lấy nước. Ông Kha Văn Hùng ở bản này cho biết: “Cả bản được Nhà nước đầu tư xây dựng 8 bể chứa nước, nhưng nay chỉ 1 bể còn có nước chảy về, còn lại phủ rêu khô khốc”. Quả thực, khi mục sở thị 5 bể nước đều thấy trơ đáy. Ở đây địa hình dốc, không có bãi bằng như dưới bản Trung Thắng nên bà con không thể khơi “giếng” lấy nước, hàng trăm con người đành chen chúc nhau tại một bể nước.

 

Giờ cao điểm thường từ 17-20h, lúc này người dân mới từ nương rẫy trở về, ai cũng có nhu cầu lấy nước đun nấu, tắm rửa và giặt giũ. Chị Vi Thị Lan bức xúc nói: “Khe suối đục ngầu do máy to, máy nhỏ múc, cày, xới tìm vàng. Nước đục đã đành, máy móc còn thải dầu ra nguồn nước và chất thuỷ ngân để xử lý quặng. Các con khe trước đây nhiều cá lắm, chồng tôi đi rẫy về, đem lưới, chài đi chừng một tiếng đã có cá ăn đến mấy ngày. Nay không biết chúng bỏ đi hay đã chết hết, mà chừ có chài được cá trong bản cũng không ai dám ăn nữa”.

 

Ngược lên xã Yên Hoà, nước các khe suối vẫn quyện đặc bùn đất đỏ quạch. Thăm một gia đình ở bản Xiềng Líp, ông cho biết hầu hết các bể nước do nguồn kinh phí Chương trình 135 của Chính phủ, nhưng ở đây đã hết nước từ lâu. Nước khe suối thì không thể dùng được, hằng ngày nước phải đi chở khá xa nên phải dùng tằn tiện. Theo chân một người dân bản Xiềng Líp, chúng tôi lội bộ ngược nguồn khe Líp.

 

Từ bản đến chỗ đứt gãy đầu tiên của hệ thống đường ống chừng 7km, phải đi qua vô số điểm khai thác vàng sa khoáng của các công ty được cấp phép, của người dân địa phương khai thác thủ công trái phép cũng có. Lòng khe bộn bề, lồi lõm, những “phu vàng” nhìn chúng tôi với ánh mắt soi mói. Dọc khe, nhiều đoạn đường ống đã nằm lộ thiên, thậm chí có những đoạn bị các “phu vàng” bới móc tan hoang, đường ống nằm chơi vơi, lơ lửng giữa hai ụ đất có thể đứt gãy bất cứ lúc nào.

 

Những đoạn thõng xuống, có nguy cơ đứt gãy cao được các “phu vàng” chống lên bằng cây rừng. Đi một quãng xa nữa mới đến được vị trí bị đứt đầu tiên của đường ống. Tại đây, do “vàng tặc” đào khoét làm mất điểm tựa của đường ống kim loại, nên hệ thống bị đứt gãy ở vị trí nối khớp giữa hai đoạn và rời ra theo hai hướng, một đoạn chĩa lên cao, đoạn kia chúi xuống hố đãi vàng...

 

Trở về bản Xiềng Líp khi mặt trời đã đứng trên đỉnh đầu, lại phải chứng kiến cảnh người dân tất bật trong việc lấy nước, can, xô lỉnh kỉnh - cảnh tượng quen thuộc của không ít bản làng vùng “bốn Yên, một Nga”. Trên đường về qua bản Hào, xã Yên Hoà, bản Na Pu, Na Khốm, Xốp Pu, xã Yên Na, rồi ghé lên bản Văng Cuộm, Pa Tý, Cành Toong... xã Yên Tĩnh, vẫn một khung cảnh những bãi vàng bề bộn và ầm ĩ tiếng động cơ các loại, khe suối tan hoang, làn nước đỏ quạch và người dân phải gạn lọc từng giọt nước sạch.

 

Trên đường trở về xuôi, từ thượng nguồn sông Cả, những cồn cát sỏi đùn lên loang lổ lấp cả dòng sông, nhiều chỗ trơ đáy xắn quần lội qua được. Có lẽ từ đây, hình ảnh sơn nữ thả mình trong làn suối trong xanh mỗi buổi chiều về chỉ còn trong ký ức và chúng tôi không khỏi chạnh lòng khi nhớ về câu dân ca Nghệ -Tĩnh: “...Sông Lam biết khi mô cho cạn...”!

 

La Minh - Công Kiên (Lao động)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu