Đất dân đã giao, nhà máy thủy điện xây dựng và vận hành hòa vào lưới điện quốc gia, song ít ai biết đến những người dân sau 30 năm vẫn chưa yên ổn với cuộc sống nơi tái định cư do thiếu đủ thứ.
Kết quả nghiên cứu về “Di dân, tái định cư, ổn định cuốc sống và bảo vệ tài nguyên, môi trường ở các dự án thủy điện Việt Nam” do Viện tư vấn phát triển (CODE) thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam thực hiện và vừa được công bố.
Tiền trao, hết trách nhiệm?
Cách đây 6 năm ông Nguyễn Văn Niệm, Chủ tịch xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy, Kon Tum được giao trách nhiệm sống với 800 hộ dân (gần 6.000 khẩu) thuộc diện tái định cư của thủy điện Pleikrông (Kontum). Vì vậy, ông Niệm thấm thía sự cực nhọc của cuộc sống nơi tái định cư. Ông kể, thời điểm 2005 đến nay là qua 6 năm ông cùng với các ban ngành thực hiện chính sách tái định cư để bà con được di dời lên nơi ở mới. Thực sự, tại vùng tái định cư các điều kiện về giao thông, giáo dục được tập trung hơn, trường lớp khang trang hơn và bà con được tiếp cận thuận lợi hơn. Các dịch vụ mới, hệ thống giao thông nông thôn, trung tâm y tế, hàng hóa được nâng cao rất nhiều. Tuy nhiên, nhiều vấn đề chưa được giải quyết.

Theo ông Niệm, bất cập trước hết là vấn đề đất ở. Với 1 hộ đồng bào dân tộc thiểu số chỉ quy định mỗi nhà 400m2. Trong số này, mỗi hộ chỉ được xây 60m2 nhà ở. Với những hộ có 6-10 khẩu, 60m2 chỉ xây được một buồng cho 2 vợ chồng ở, các thành viên còn lại trong gia đình trải chiếu ra ngoài sàn để ngủ. Nhà quy hoạch cho nông dân ở như phố, nhà xây ở giữa, có sân 100m2, đằng sau là giếng, nhà vệ sinh nổi… Thêm vào đó, dù là có giếng nhưng có thôn nơi tái định cư được bố trí trên 8ha đất của một quả đồi cao hơn mặt nước của Pleikrông là 25m. Vì vậy, vào mùa khô, khi thủy điện Pleikrông xả nước cho các ruộng bậc thang thì giếng cũng không có nước để bà con dùng. Để có nước sạch, bà con phải mang gùi đi hứng nước suối với quãng đường đi mất 3 giờ đồng hồ.
Một bất cập nữa là không có đất để sản xuất. Với 800 hộ dân cần di dời, chủ đầu tư chỉ khai hoang 9ha đất. Hiện vẫn còn 64 hộ không có đất sản xuất. Tỉnh KonTum sốt ruột, thương dân đã yêu cầu chủ đầu tư chậm giao đất sản xuất sẽ phải hỗ trợ mức 8.400.000/năm, thế nhưng chủ đầu tư chỉ giải quyết cho 2 năm, còn lại 3 năm nay không thực hiện. “Họ không cần biết người dân sống bằng gì trong suốt 5 năm qua. Đúng ra, người dân phải được hưởng lợi từ lợi ích thu được của ngành điện, đời sống nơi ở mới đáng ra phải được tốt hơn, song nay lại không bằng thậm chí còn mất đi rất nhiều từ văn hóa, nguồn sinh kế… ”, ông Niệm nói.
Theo tác giả Việt Lâm, Liên hiệp các Hội KH&KT Hòa Bình, Dự án thủy điện Hòa Bình đã thực hiện cách đây 30 năm, song đến nay đời sống của người dân khu vực lòng hồ vẫn chưa có gì thay đổi lớn. Sinh kế chủ đạo vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong đó cây lương thực và chăn nuôi chiếm tỉ trọng cao. Thực trạng này thể hiện rõ nguồn vốn sinh kế hạn hẹp, chưa tạo ra tăng trưởng thu nhập cho người dân từ ngành nghề mới, mở rộng và cải thiện giao thương với bên ngoài.
Tại Thủy điện Sơn La, ông Nguyễn Thế Hiệu, Ban quản lý dự án tái định cư huyện Mộc Châu, Sơn La cũng chỉ ra hàng loạt những khó khăn tương tự như nhiều dự án thủy điện khác trên cả nước. Theo ông Hiệu, “Nhà nước cần có một chính sách thực sự công bằng, hợp lý, quan tâm thoả đáng đến người dân bị ảnh hưởng phải di chuyển tái định cư để xây dựng công trình thuỷ điện. Kịp thời xem xét sửa đổi những quy định còn bất cập, vướng mắc trong tổ chức thực hiện cho phù hợp với điều kiện thực tế”.
Cần quy định bắt buộc có tư vấn phản biện và giám sát độc lập
Lấy thực tế việc chưa có quy hoạch như thủy điện Hòa Bình) đến có dự án quy hoạch các khu TĐC tập trung xây dựng sẵn (như Yaly, A vương, Bản vẽ, Sơn La giai đoạn đầu…) và khu TĐC tập trung người dân được tự xây dựng nhà cho mình (bản Mai Quỳnh – Mường Bon – Mai Châu của thủy điện Sơn La…) nhưng vẫn để lại nhiều hậu quả phức tạp tác động bất lợi đến ổn định đời sống kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở thực hiện chính sách về thu hồi đất và di dân TĐC ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới, đề tài đã đưa ra nhiều kiến nghị cụ thể trong việc thực hiện chính sách.
Trình bày kiến nghị của đề tài, Thạc sĩ Phạm Quang Tú, Phó viện trưởng Viện Code nêu: việc phát triển và vận hành các công trình thủy điện phải được rà soát, đánh giá lại các công trình thủy điện nhỏ đã xây dựng, nhất thiết phải loại bỏ các công trình trong quy hoạch nhưng hiệu quả thấp. Chính sách bồi thường/đền bù được tính đủ kinh phí để mua lại hay phục hồi lại đất và tài sản trên đất, đảm bảo sự công bằng giữa những người bị ảnh hưởng, giữa các dự án và các vùng miền trên cả nước. Với đất khai hoang mới, người dân được tính thêm chi phí cải tạo đất ít nhất 2 vụ để đảm bảo điều kiện sản xuất trước khi giao đất cho người dân... “Nhà nước cần quy định bắt buộc có tư vấn phản biện và giám sát độc lập trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án tái định cư; xây dựng quỹ hỗ trợ tái định cư và nguồn quỹ này có thể huy động đóng góp từ hiệu quả kinh doanh của nhà máy thủy điện trong quá trình sản xuất, quỹ bảo vệ phát triển rừng…”, ông Tú nhấn mạnh.
Đại diện của các địa phương cũng như nhiều nhà khoa học cũng đồng tình quan điểm này và cho rằng, các tổ chức xã hội tập trung hỗ trợ nâng cao năng lực và nhận thức cho cộng đồng bị ảnh hưởng nhằm tạo điều kiện cho họ có khả năng tiếp cận đầy đủ các chính sách bồi thường, hỗ trợ của nhà nước; là cầu nối cho các cuộc đối thoại và thảo luận công khai giữa người bị ảnh hưởng và các bên liên quan; tham gia các hoạt động giám sát và tư vấn, phản biện độc lập đóng góp ý kiến cho chủ dự án tái định cư có thêm căn cứ và cơ sở khoa học trước khi quyết định các vấn đề liên quan trong việc lập, thực hiện dự án để tránh tình trạng “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.
Bích Ngọc (Đất Việt)