![]() |
| Harvard- Đại học tư thục lớn nhất của Mỹ. (Ảnh minh họa, nguồn Internet) |
Nhập nhèm quy chế và quyền sở hữu…
Khác với hoạt động của các trường đại học và cao đẳng công lập do nhà nước thành lập và tài trợ trong việc quản lý và điều hành, các trường ĐH tư thục được duy trì và phát triển hoạt động nhờ vào hai thành phần là nhà giáo dục và nhà đầu tư.
Tuy nhiên giữa 2 thành phần này đang tồn tại những mâu thuẫn về quyền lợi và đây được xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho chất lượng giáo dục của các trường ĐH tư thục đang đi xuống.
Nhiều người gọi sự tranh chấp quyền lực giữa nhà giáo và nhà thầu trong các ĐH tư thục là “quả mìn nổ chậm”, các trường tư thục là miếng pho mát có quá nhiều lỗ hổng, kẻ nhiều tiền có nhiều cơ hội để thâu tóm…
Lý giải cho những “ví von” này, nhiều chuyên gia cho rằng vì pháp luật nhà nước ban đầu chưa nghĩ ra cho các trường tư thục một quy chế làm nền tảng pháp lý. Do đó, mỗi trường tự đặt ra một luật lệ riêng và không ngạc nhiên khi có trường đưa cả vợ con vào HĐQT để làm việc; các trường không có quyền tự chủ; gần đây chuyển đổi từ hệ thống dân lập sang tư thục để ổn định loại hình thì sự tranh chấp quyền lợi, quyền lực “đã lên như quả mìn nổ chậm”.
Những nhà giáo, nhà khoa học – những nhà sáng lập đang dần mất hẳn vị trí quản trị bởi vốn không nhiều tiền, không có được cổ phần lớn như các nhà đầu tư nên đang bị loại trừ dần khỏi trường bởi những "thủ thuật của thương trường".
Các chuyên gia đều cho rằng Quyết định 61 năm 2009 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường ĐH tư thục của Thủ tướng Chính phủ (hay còn gọi là Quy chế 61) được các trường cho rằng nó giống như quy định dành cho công ty. Khi nói đến công ty sẽ gắn liền với lợi nhuận. Điều này mâu thuẫn với Luật Giáo dục quy định "cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục vì mục đích lợi nhuận".
Chính bởi những sự nhập nhèm trong quy chế và luật định nên hiện tượng mua bán trường ĐH tư thục đang trở thành vấn đề nhức nhối hiện nay.
Trong một cuộc hội thảo về mô hình trường ĐH tư thục mới đây, TS Đặng Văn Định - Chủ tịch Hội đồng quản trị trường ĐH Chu Văn An, cảnh báo: “Hiện tượng mua bán quyền sở hữu vốn góp để kiếm lời theo kiểu lướt ván đã và đang diễn ra, biến trường ĐH thành vật buôn bán”.
GS Phạm Phụ, ĐH Bách Khoa TP.HCM cho biết: “Hiện nay, ở phía Nam, người ta bán trường rất nhiều, giống như bán công ty”.
Hậu quả của những cuộc mua bán này, hơn ai hết sinh viên là người lãnh đủ! “Một lớp cơ khí, 300 sinh viên cùng ngồi nhìn một chi tiết thì làm sao học được cái gì. Thầy thì thuê, mâu thuẫn nội bộ triền miên. Cuối cùng, bao thiệt hại dồn hết lên đầu sinh viên, chất lượng sinh viên ngày càng lao dốc. Nhà đầu tư chỉ luôn nghĩ làm thế nào để thu được nhiều tiền từ đồng vốn bỏ ra chứ họ không nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục….”, ý kiến của GS Phạm Phụ.
Vậy mô hình ĐH tư thục nào thích hợp nhất cho Việt Nam?
Né tránh khái niệm “vì lợi nhuận” hay “phi lợi nhuận” trong GD nói chung dường như là nguyên nhân chính khiến cho 20 năm nay việc triển khai mô hình ĐH ngoài công lập ở Việt Nam luôn gặp trở ngại.
Theo ý kiến của phần đông các chuyên gia, hiện nay Việt Nam chưa thể phát triển mô hình ĐH tư thục phi lợi nhuận. Ở nước ngoài thường có chuyện cho, tặng và vốn đó được đưa vào để kinh doanh. Như vậy mới có thể hoạt động phi lợi nhuận. Còn ở Việt Nam thì chưa có thói quen này. Vì vậy, nên chăng xây dựng mô hình trường tư “nửa vì lợi nhuận” hay trường có “lợi nhuận thích hợp”. Theo mô hình này thì sẽ khống chế lợi nhuận của cổ đông góp vốn. Lợi nhuận của trường sẽ chia lãi theo tỷ lệ lãi suất ngân hàng, còn lại sẽ là tài sản sở hữu cộng đồng. Đây là mô hình ĐH tư thục phổ biến ở các nước châu Á nói chung.
Tuy nhiên, Ts. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright có gợi ý thay vì phát triển trường ĐH tư thục nửa phi lợi nhuận, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm quốc tế về khuyến khích sự tham gia của xã hội, trong đó có mô hình ĐH tư nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận, có thể gọi là đại học nghĩa thục.
Cơ chế hoạt động của mô hình ĐH nghĩa thục là Nhà nước có thể đưa ra một số biện pháp khuyến khích cho các trường nghĩa thục này có thể đảm bảo ổn định về vốn, chẳng hạn như Nhà nước đồng tài trợ, cung cấp một số đầu tư ban đầu, hay đấu thầu các dự án nghiên cứu và phát triển. Đặc biệt là cần có chính sách miễn thuế thu nhập hoàn toàn đối với các trường nghĩa thục, đồng thời miễn thuế thu nhập cho những cá nhân và tổ chức tài trợ cho các trường nghĩa thục. Và có thể quy định trách nhiệm giải trình của trường nghĩa thục được đảm bảo thông qua khuôn khổ pháp lý của Nhà nước, các quy chế thích hợp của hội đồng trường, hoạt động kiểm toán của Bộ Tài chính cùng các cơ quan quản lý Nhà nước hữu quan và sự giám sát của toàn xã hội v.v…
Thiết nghĩ, việc xây dựng và phát triển mô hình trường ĐH tư thục chính là đường lối của đảng và nhà nước Việt Nam, trong chính sách xã hội hóa giáo dục, dùng mọi nguồn lực của xã hội để phát triển giáo dục. Bởi vậy, vấn đề lợi nhuận hay phi lợi nhuận là một mục tiêu lâu dài nhắm đến lợi ích, tương lai của đất nước vì thế các bộ ngành có liên quan cần phải nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng, để đề ra một hướng đi đúng đắn, chính xác và hữu hiệu hơn về vai trò và chức năng của ĐH tư thục ở Việt Nam.
Thanh Loan (Tamnhin)
