So với lao động các nước Thái Lan, Philippines, Indonesia, lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc phải tốn chi phí nhiều nhất. Trong cơ chế doanh nghiệp tự làm giá, đẩy giá phí lên cao thì quản lý nhà nước vẫn còn đứng ngoài cuộc…
Hậu quả nhãn tiền
![]() |
| Ảnh: Khều. |
Tính đến thời điểm tháng 4-2011, trong số hơn 60.000 lao động Việt Nam được đưa sang Hàn Quốc làm việc theo luật cấp phép lao động cho lao động phổ thông nước ngoài - EPS (gọi tắt là chương trình EPS), có 8.780 lao động phá vỡ hợp đồng hoặc hết hạn hợp đồng ở lại cư trú, làm việc bất hợp pháp. Trong khi chưa giải quyết đưa về nước số lao động trên thì theo Trung tâm Lao động ngoài nước, số người bỏ trốn lại tiếp tục gia tăng: tính đến tháng 8-2011, 49% trong số 8.000 lao động hết hạn hợp đồng trong năm này đã bỏ trốn.
Do số lượng lao động bỏ trốn quá cao, Bộ Lao động và việc làm Hàn Quốc hủy đợt kiểm tra tiếng Hàn EPS-KLT năm 2011 dành cho lao động Việt Nam dự kiến tổ chức ngày 7-8 vừa qua, khiến 16.500 người mất cơ hội làm hồ sơ dự tuyển theo chỉ tiêu được cấp cho kỳ kiểm tra. Cơ quan Phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc (HRD Korea) tại Việt Nam khuyến cáo nếu không giải quyết tình trạng trên, Việt Nam có thể sẽ tiếp tục không được tổ chức đợt kiểm tra tiếng Hàn vào tháng 4 hoặc tháng 5-2012; thậm chí có nguy cơ bị loại khỏi danh sách 15 quốc gia phái cử lao động theo chương trình EPS.
Vấn đề đặt ra là vì sao lao động Việt Nam bỏ trốn cao như thế và nguyên nhân do đâu? EPS là chương trình phi lợi nhuận và theo đó, người lao động không phải đóng tiền môi giới, phí dịch vụ và ký quỹ chống trốn. Tổng chi phí một người bỏ ra chỉ khoảng 700 đô la Mỹ, trong đó có cả tiền vé máy bay. Thế nhưng trên thực tế, rất nhiều người đã phải đóng một khoản phí cao ngất ngưởng, từ 8.000-10.000 đô la Mỹ.
Trong một thời gian dài, cách phân bổ chỉ tiêu và giao hẳn việc tổ chức đăng ký cho một số cơ quan, địa phương (trực tiếp là sở lao động - thương binh và xã hội các tỉnh, thành) đã tạo kẻ hở để chính cán bộ ở các cơ quan, địa phương lợi dụng, thao túng, “kiếm chác” từ người lao động với giá cao gấp hơn cả chục lần so với quy định. Tình trạng này đang đi đôi với việc không công khai, minh bạch về thông tin hồ sơ dự tuyển từ chính Trung tâm Lao động ngoài nước.
Ông Phan Văn Minh, Giám đốc trung tâm, giải thích không công khai hồ sơ dự tuyển của người lao động (theo quy trình, hồ sơ dự tuyển của người lao động sẽ được đưa lên mạng cho chủ sử dụng lao động Hàn Quốc lựa chọn) là vì “để bảo vệ người lao động khỏi bị kẻ xấu lừa đảo”. Nhưng ngược lại, vì không biết hồ sơ của mình có được đưa lên mạng hay không, người lao động đã phải tìm móc thêm hầu bao cậy đến các cá nhân, tổ chức để... gửi gắm, chưa nói đến việc bị lừa đảo.
Về những hạn chế ở chương trình EPS, ông Nguyễn Thanh Hòa, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, khẳng định đúng là còn nhiều cái phải cải tiến, có hiện tượng tiêu cực ở các địa phương, nhưng không thể xử lý được vì không có chứng cứ cụ thể.
Thả nổi quản lý phí
Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các văn bản pháp luật hiện hành quy định cụ thể chi phí người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo từng thị trường. Thế nhưng chi phí thực tế mà họ bỏ ra thường cao hơn nhiều lần so với quy định. Ở thị trường Đài Loan, người lao động bị thu vô tội vạ, nhất là với khoản phí môi giới từ 3.000-4.000 đô la Mỹ/người, cao gấp đôi quy định.
Nếu cộng phí dịch vụ (mỗi năm làm việc tương ứng một tháng lương cơ bản theo hợp đồng - hiện nay là 17.880 đài tệ, khoảng 13 triệu đồng), lý lịch tư pháp, khám sức khỏe, tiền vé máy bay, lệ phí visa, chi phí đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết... thì tổng chi phí người lao động phải nộp trước khi sang Đài Loan khoảng từ 5.000-6.000 đô la Mỹ/người. Với mức chi phí này, phải mất một nửa thời hạn làm việc theo hợp đồng, người lao động mới tích lũy được thu nhập để bù đắp.
Lao động nước ngoài vào Nhật Bản theo chương trình tu nghiệp và thực tập kỹ thuật (thường gọi là tu nghiệp sinh - TNS) được chủ sử dụng lao động đài thọ một lượt vé máy bay, chi phí đào tạo ngoại ngữ, nơi ở, chu cấp dụng cụ sinh hoạt... Doanh nghiệp phái cử TNS của Việt Nam được chủ sử dụng Nhật Bản chi trả phí dịch vụ, thay vì thu của người lao động theo quy định trong nước. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm các nghiệp đoàn nước này thu phí môi giới của người lao động. Tính ra, nếu thu đúng theo quy định của Nhật Bản, người lao động cũng chỉ tốn một khoản phí không quá lớn.
Thế nhưng, trên thực tế, mặc dù được chủ chi trả phí dịch vụ, nhiều doanh nghiệp vẫn tận thu phí dịch vụ của người lao động, tương ứng khoản tiền 830 đô la Mỹ/năm. Về phí môi giới, dựa theo quy định về thu phí môi giới của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các doanh nghiệp vẫn áp mức thu 1.500 đô la Mỹ/người để chi trả cho các nghiệp đoàn nước này. Tổng cộng chi phí ban đầu một lao động bỏ ra để sang Nhật từ 3.000-5.000 đô la Mỹ, tùy doanh nghiệp.
| Đứng ngoài cuộc Tình trạng tự làm giá của doanh nghiệp đã và đang xảy ra trong bối cảnh mà theo đánh giá của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội là quản lý nhà nước đứng ngoài cuộc. Nó tạo ra nghịch lý là người nghèo khó có cơ hội được ra nước ngoài làm việc. Ngược lại, những người đã bỏ ra một khoản tiền quá lớn để đầu tư thì chỉ mong sau khi ra nước ngoài càng ở lâu càng tốt, cốt chỉ để tích lũy thêm thu nhập, trang trải nợ nần cho các khoản vay mượn đã nộp ban đầu. |
Ở nhiều thị trường khác, người lao động vẫn bị thu phí cao hơn quy định. Chẳng hạn ở thị trường Malaysia, phí môi giới theo quy định 300 đô la Mỹ/người, nhưng mức thu phổ biến của doanh nghiệp là 350-400 đô la Mỹ.
Với thị trường Canada, Úc tổng chi phí người lao động phải chi khoảng 200 triệu đồng/người, trong đó chỉ riêng phí môi giới khoảng 5.000 đô la Mỹ trong khi quy định là 3.000 đô la.
Còn với thị trường Mỹ, chi phí này lên đến khoảng 13.000-15.000 đô la, trong đó phí môi giới từ 8.000-10.000 đô la/người...
Trước hiện tượng phí bị làm giá, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao đông ngoài nước, thừa nhận đúng là thời gian qua vẫn có tình trạng một số doanh nghiệp tuyển chọn lao động qua môi giới, thu phí không rõ ràng, cao hơn quy định. Trong chức năng nhiệm vụ của mình, cục sẽ tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, xử lý vi phạm.
Luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các văn bản pháp luật hiện hành quy định cụ thể chi phí người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo từng thị trường. Thế nhưng chi phí thực tế mà họ bỏ ra thường cao hơn nhiều lần so với quy định.
Duy Quốc (TBKTSG)
