Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Chào tiễn biệt năm Mèo

21/01/2012 28 phút đọc Tương Lai
Tiễn đưa năm Mèo, đương nhiên phải nói chuyện Mèo, con vật hiền lành dễ thương thường được ấp ủ, vuốt ve, nhất
Chào tiễn biệt năm Mèo

Tiễn đưa năm Mèo, đương nhiên phải nói chuyện Mèo, con vật hiền lành dễ thương thường được ấp ủ, vuốt ve, nhất là với các cháu bé và các thiếu nữ đa cảm [chứ không phải là các nữ quái tuổi học trò đấm nhau tàn nhẫn giữa phố dữ dằn chẳng kém gì các nam nhân]. Ấy thế mà lạ một điều, trong văn học dân gian và cả trong văn chương bác học, hình ảnh con mèo thường được gợi lên không mấy cảm tình. Đại loại như “con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà, chú chuột đi chợ đường xa, mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”.

Chuột chửi mèo là điều dễ hiểu. Nhưng mà cạnh khóe đến thế, tai quái đến thế thì đau cho mèo quá lắm. Nhưng làm sao có thể khác được. Cứ xem lại bức tranh "Đám cưới chuột" thì sẽ vỡ ra rằng, chửi thế chứ ác khẩu hơn, độc địa hơn cũng chưa đủ. Trong bức "tranh Đông Hồ ... màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" ấy miêu tả sinh động hình ảnh tưng bừng rộn rã của đám cưới chuột đang hoan hỉ bước đi theo nhịp kèn trống thì, ở phía trước, trên cao, lù lù một con mèo hung dữ đang nằm thu mình lại để chực vọt ra ăn sống nuốt tươi cô, dâu chú rể cùng với đám phù dâu, phù rể và những nghệ nhân tháp tùng. Khủng khiếp quá, vậy là "Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã. Bây giờ tan tác về đâu? [Hoàng cầm. "Bên kia sông Đuống]. Rõ ràng ở đây con mèo là hình ảnh của cái ác.

http://hoxuantuyen.vnweblogs.com/gallery/4300/Dam%20cuoi%20chuot.jpg
"Đám cưới chuột

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thì con mèo lại xuất hiện với hình ảnh quá xấu: "Ra tuồng mèo mả gà đồng" để ám chỉ "Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng". "Gà đồng" thì không lấy gì làm xấu, nhưng "mèo mả" thì ghê quá. Nhưng đây là nhà thơ thiên tài đã đưa tục ngữ vào thơ nhuần nhuyễn đến độ không còn phân biệt được đâu là thơ của Nguyễn Du, đâu là tục ngữ. Mà đã là tục ngữ, thì cái lý được trải nghiệm và đúc kết thật khó mà bàn cãi. Phải chăng có thể tìm thấy ở đây lý do chính để giải mã hình ảnh con mèo trong tâm thế của các tác giả văn học dân gian. Với những người hay lam, hay làm, đầu tắt mặt tối, suốt ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời trong cuộc mưu sinh, thì sự lười biếng là điều phải quyết liệt lên án. Và thế là mèo, suốt ngày không nằm vùi sưởi ấm bên đống tro bếp thì cũng nằm phơi nắng trước hiên nhà là biểu tượng nổi bật của sự lười biếng đó. Bởi thế mới có hình ảnh về sự lười biếng ấy trong câu tục ngữ: "ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa"!

Kể ra như vậy cũng không công bằng. Mèo ngủ ngày để bù lại đêm mắt mèo sáng quắc để rình bắt chuột, công việc ấy cũng đáng được ghi nhận lắm chứ! Nếu không, sao nhà nào cũng nuôi mèo? Cho dù vậy, hành tung của mèo trong đêm tối, "lao động sản xuất" của mèo với "năng suất cao" trong săn bắt chuột vào ban đêm lại ít đập vào mắt người bằng chuyện "ngủ ngày" của chú mèo đáng thương kia. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Công Trứ đã tóm gọn thần thái và đặc trưng tính cách của mèo trong hình ảnh rất giàu tính triết lý: "Con mèo nằm bếp co ro . Ít ăn thì lại ít lo ít làm". Rồi đến trẻ nhỏ ở lớp mầm non cũng được các cô lấy hình ảnh mèo để dạy các cháu đừng làm điều xấu "Meo meo meo rửa mặt như mèo. Xấu, xầu, xấu chẳng được mẹ yêu"!

Có thể kể dài dài những nết xấu của mèo, nhưng ngẫm cho kỹ cũng tội nghiệp cho con vật hiền lành vốn là bạn của con người, quấn quýt với người, lại là một con vật có ích nên để bớt bất công khi tiếp tục chuyện mèo, xin kể một chuyện mang dáng dấp của tiếu lâm, chuyện luyện mèo của Trạng Quỳnh. Chuyện rằng nhà Chúa [đây là chúa Trịnh lộng hành thời Lê mạt, dân một cổ hai tròng] có một con mèo quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn toàn cao lương mỹ vị. Quỳnh vào chầu, trông thấy, bắt về, cất xích vàng đi mà buộc xích sắt, nhốt một chỗ, đến bữa thì để hai bát cơm, một bát thịt cá, một bát rau nấu đầu tôm. Mèo ta quen ăn miếng ngon chạy đến bát cơm thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn bát rau nấu đầu tôm. Như thế, được hơn nửa tháng, dạy đã vào khuôn, mới thả ra.

Chúa mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con giống hệt, lệnh cho Quỳnh đem mèo vào chầu. Chúa hỏi: Sao nó giống mèo của ta thế? Hay khanh thấy mèo của ta đẹp bắt đem về, phải nói cho thật! Quỳnh đáp, nghi cho thần bắt trộm, thật là oan, xin chúa thượng đem ra thử thì biết. Thử là thử thế nào, nói ta nghe. Quỳnh đáp: chúa thượng phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn cơm với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay. Chúa sai đem ra thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch. Quỳnh nói: người ta phú quý thì ăn cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ. Rồi lạy tạ đem mèo về. Chúa bị lỡm mà không làm gì được!

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/71/Cat_and_Friday%27s_fish.jpg

Chuyện trộm mèo và luyện mèo ngẫm kỹ, hóa ra đâu chỉ nói chuyện mèo! Chuyện người đấy. Mượn chuyện mèo, Trạng Quỳnh lỡm chúa, tiếng cười dân gian bật ra sảng khoái. Nhưng sau tiếng cười là giọt nước mắt đắng cay cho thân phận con người. Thân phận con người ư? Gì mà "đao to búa lớn" làm vậy?

Xin thưa rằng: nếu J.J Rousseau, nhà tư tưởng của thế kỷ khai sáng chua chát thừa nhận: "Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi con người lại bị cùm kẹp" thì C.Mác, tác giả của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, lại bay bổng trong khát vọng hướng tới một xã hội mà trong đó: "Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do do của tất cả mọi người". Nhưng Voltaire lại ngao ngán thổ lộ: "Tội ác có anh hùng của nó, sai lầm có tử sĩ của nó. Lòng nhiệt thành và vô vọng là những gì chúng ta có". Còn Hồ Chí Minh thì bằng trải nghiệm của lịch sử dân tộc và cuộc sống của chính mình đã cay đắng thốt lên: "Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do".

Chỉ có điều, phải đau đớn mà nhận ra rằng, không phải ai cũng cảm nhận được sự cay đắng cao cả ấy. Miếng cơm manh áo hàng ngày trĩu nặng trên vai của đại đa số những người lầm than, khổ cực trong cuộc mưu sinh đã choán hết chỗ trong đầu óc họ. Thì chẳng thế sao, Khổng Tử, từng khẳng định sòng phẳng: "dân dĩ thực vi thiên", dân lấy ăn làm trời! Dân gian thì huỵch toẹt bỗ bã nói lên điều khẳng định đó của vị "Vạn thế sư biểu": "đói thì đầu gối phải bò"! Sang trọng ra thì diễn dịch mệnh đề "đầu gối phải bò" như kiểu Mạnh Tử: "có hằng sản mới hằng tâm" để rồi đưa đến một khuyến cáo thật bất ngờ: "không có hằng tâm thì phóng túng, gian dối, bậy bạ, chẳng cái gì là chẳng làm, đến khi phạm pháp thì người cầm quyền vin vào đó mà chém giết họ, như vậy không khác gì đặt lưới mà bẫy họ" [Mạnh Tử. Đằng Văn Công. Thượng].

Xem thế thì ra, cái "đầu gối phải bò" kia chính là nỗi đau của kiếp người.

Vì miếng cơm, manh áo, phải thường xuyên đối mặt với đói rét, cơ cực mà lắm khi con người phải "đi bằng đầu gối", phải chấp nhận "nghèo đi đôi với hèn". Nhưng xin đừng vội lên lớp cho họ khi mà cái quy luật nghiệt ngã của cuộc sống cơ hàn trực tiếp chi phối bản thân họ và vợ con họ. Khi cái đói, cái rét dày vò, khi ốm đau bệnh tật không có tiền chữa chạy, khi vào ngày năm cùng tháng tận trong nhà không còn hạt gạo, con người bị dồn đến chân tường và cái bản năng bật dậy, con người có thể tự đánh mất mình.

Trong những tình huống như vậy thì tự do, dân chủ là những món ăn xa xỉ, chưa hợp khẩu vị. Phải có tấm lòng bao dung cận nhân tình và cái nhìn nhân ái thì mới có thể thấy ra được cái tấm lưới của "người cầm quyền" giăng ra để "bẫy" họ như lời phê phán của vị Á Thánh của đạo Nho dẫn ra ở trên là sâu sắc biết bao về thân phận con người! Mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, Các Mác đưa ra khẩu hiệu hành động: "nếu hoàn cảnh ảnh hưởng đến con người thì phải làm cho hoàn cảnh trở nên hoàn cảnh có tính người"!

http://anhso.net/data/1/miloveisthuy//meodethupmg13522.jpg

Xét đến cùng, bao sông máu tuôn chảy, bao núi xương chồng chất cũng vì mục tiêu làm cho hoàn cảnh trở nên hoàn cảnh có tính người, khát vọng cao cả của cả loài người. Các thế hệ Việt Nam, người người lớp lớp ngã xuống cũng là vì lý tưởng vĩ đại đó. Trên con đường lý tưởng dài dằng dặc đó, mục tiêu độc lập đã thực hiện được cho dù vẫn còn phải thường trực cảnh giác như ông cha ta đã răn dạy. Và không chỉ răn dạy bằng những trang sử thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt, mà cả bằng những lời răn tạc vào hình hài sông núi như cách các cụ ta giải thích về 99 ngọn đồi ở Phú Thọ cộng thêm ngọn thứ 100 bị cụt đầu, tượng trưng cho con voi phản bội, lìa đàn, quay về hướng bắc, bị chém chết!

Quyết liệt và hào hùng đến thế tưởng khó nói gì được thêm. Vả chăng, lòng yêu nước là điểm nhạy cảm bậc nhất trong tâm thế người Việt Nam, chạm đến tinh thần dân tộc là chạm đến chỗ sâu kín trầm tích lại trong đời sống tinh thần Việt Nam. Còn "tự do", và nhất là "dân chủ" thì dù sao vẫn là những phạm trù tương đối "mới" mà cái trật tự được áp đặt bao đời của "quân, thần, phụ, tử" đã phủ một lớp bụi quá dày trên đời sống xã hội, hằn sâu trong tập quán ứng xử của con người "thần dân" chưa vươn đến được con người "công dân" khiến cho việc tiếp nhận những phạm trù mới đó không dễ dàng. Phải đứng ở tầm cao của trí tuệ, thấu hiểu được những thành tựu của văn minh, thì mới chỉ ra được rằng nếu độc lập mà dân không được hưởng dân chủ, tự dohạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì ngay từ những ngày đất nước vừa giành được độc lập năm 1945 như Hồ Chí Minh đã khẳng định. Dặm đường "vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh" tự bấy đến nay trên hành trình của dân tộc ta đã nói lên điều đó!

Mà đâu chỉ có ở ta cái mô hình đã một thời áp đặt nay đang từng bước phá bỏ đã sản sinh ra những chuyện "luyện mèo" nói trên. Thì đây, xin nói có sách mách có chứng về chuyện "báo thật và báo giả", một chuyện thật như đùa ở nước láng giềng.

Duyên do là một ngày đẹp trời nọ, tổng biên tập một tờ báo kia được lệnh đưa tin thật, chỉ thay đổi "ngôi vị", từ trang nhất nay chuyển sang trang hai, còn tin vốn nằm tít tận trang tư, trang năm nay đưa lên trang nhất, đã khiến nhiều người dân cho là báo giả! Có chuyện đó là vì họ không sao tin nổi chuyển "thay bậc đổi ngôi" động trời ấy! Là thế này, cuối năm 2006, ông Uông Dương, Bí thư Thành ủy Trùng Khánh lúc ây [hiện nay là một gương mặt nổi lên trong sự lựa chọn nhân sự của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra năm 2012], ra thông báo: "Giới truyền thông phải dành trang đầu cho những tin liên quan đến cơ sở, phục vụ quần chúng".

Ngay lập tức, "Trùng Khánh Nhật báo" số đầu năm 1.1.2007 đã thay đổi bố cục trình bày. Ngay trang nhất, đăng chuyện về một ông xã trưởng họ Hồ, hằng ngày gánh nước cho những người già cả ốm yếu. Tin bí thư Tỉnh ủy Uông Dương thăm Cục Khí tượng Thủy văn thì đăng trang 2. Sự thay đổi đó đã khiến có người cầm tờ báo đọc nghi ngờ tờ "Trùng Khánh Nhật báo" ngày 1.1.2007 ấy là "báo giả", phải mang về nhà đối chiếu với các số báo trước xem có đúng là "Trùng Khánh Nhật báo" thật hay không! Thật mười mươi lại bị ngờ là giả. Cứ như một phiên bản của chuyện Trạng Quỳnh xứ ta ấy. Cả hai câu chưyện kể ra đều rất vắn, song ngẫm cho kỹ, quả thật "khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt"!

http://gallery.pethobbyist.com/data/135930HANDSOME_FROSTY.jpg

Người không bị roi quất, nhưng, được ăn quen chỉ một món, thành ghiền. Cái đầu được luyện quen chỉ một cách nghĩ, thị hiếu được rèn theo chỉ một kiểu thưởng thức. Lâu dần, thị hiếu thì cùn mòn, cái đầu thì bé đi, mạch tư duy thì vón cục lại. Đau đớn hơn, không chỉ cái đầu của một người. Cả một nhóm người, một cộng đồng có khi cũng thế! Điều này đã được đại văn hào Lỗ Tấn "gào thét" lên dể đánh thức "quốc dân tính" của người Trung Hoa từ cách nay đã gần một thế kỷ. Vắn tắt như sau:

Kết thúc kiệt tác "A Q chính truyện", Lỗ Tấn nói tới "dư luận", tức là nói tới dân trí, nói tới một thói quen suy nghĩ của cả một cộng đồng: "Còn về dư luận làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A Q không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn, vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!". Nhưng rồi khủng khiếp hơn, đau đớn hơn nữa, khi Lỗ Tấn nói đến một "dư luận" rộng hơn, lớn hơn: "Trên huyện thì dư luận không lấy gì làm hay lắm. Phần nhiều họ không thỏa mãn. Họ bảo: bắn người trông không vui mắt bằng chém. Mà cái tên tử tù kia trông buồn cười thế nào ấy. Đã bị đưa đi bêu phố một hồi như vậy mà cũng không hát lên được một câu, thành ra đi theo nó bao nhiêu đường đất chỉ mất công toi". Tưởng như thấy được máu chảy ra đầu ngọn bút của con người muốn dùng văn chương để thức tỉnh, biến đổi tinh thần nhân dân.

Nếu sống lại, không hiểu Lỗ Tấn sẽ về cái tập tính, vốn để chỉ thói quen tự nhiên của loài vật, nhưng rồi con người cũng nhiễm phải do hệ lụy của cái khung tư duy quá chật chội, khiên cưỡng một chiều quá lâu, khi cái khung đó được nới rộng ra, khi lối mòn trong cảm nhận và thụ hưởng được xóa bỏ, thì đâm ra hoang mang. Chẳng thế mà  báo chí Trùng Khánh dạo ấy, để thực thi quyết định mang tính cách tân của Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, người ta phải có hơn hai tháng tập huấn cho tất cả phóng viên, biên tập viên. Rồi, như lời của Bí thư Uông, cũng phải tập một thói quen mới cho người đọc đối với việc tìm thông tin về lãnh đạo ở trang hai. Đúng thôi. Phải tập để làm quen với cái mới. Nhưng là ai tập, tập cho ai? Cho nhà báo, cho bạn đọc.Thì đã đành. Nhưng chưa đủ. Phải tập cho chính những người vốn quen ngồi ở trang nhất như một thứ quyền uy mặc định, nay dịch chuyển sang trang hai. Điều này thật không dễ.

Vì thế mà từ chuyện "Mèo" phải nhảy sang chuyện "Người" để nói thêm về cái điều không dễ ấy. Khi mà cái đầu được luyện quen chỉ một cách nghĩ, một lối đi theo kiểu "đi rừng, người đi sau dẫm lên vết chân của người đi trước" thì rồi sẽ ra sao nhỉ? Mà trên con đường ấy lại lắm ngã ba, ngã tư, rồi ngã sáu, ngã bảy cơ chứ. Vậy là lại phải mượn lại cái vị đắng triết lý của Dương Chu thời Chiến quốc chép trong sách Liệt  Tử về những "ngã ba, ngã bảy" đó để bàn thêm về chuyện mèo chăng.

Chuyện rằng:" Người láng giềng nhà Dương Chu mất một con dê, đã sai hết cả người nhà đi tìm, lại sang nói Dương Chu mượn một người nhà cho đi tìm hộ. Dương Chu nói:" Ôi ! sao mất có một con dê mà cho những bao  nhiêu người đi tìm?" Người láng giềng đáp: "Vì đường có lắm ngã ba". Khi các người tìm dê đã về, Dương Chu hỏi:"Có tìm thấy dê không?" Người láng giềng nói "Không". "Sao lại không tìm thấy"?  "Tại  đường lắm ngã ba, theo các ngã ba đi một chốc lại có nhiều ngã ba khác. Thành thử không không biết đi vào đường nào để tìm thấy dê, phải chịu về không cả". Ấy đường cái, chỉ vì lắm ngã ba mà dê mất không tìm thấy. Người đi học cũng vậy, chỉ vì dễ mê muội mà mất cả lương tâm"!

http://2.bp.blogspot.com/_mZudvJiaTR0/TTeccz71hmI/AAAAAAAABzE/AgLx1rK6_As/s1600/CAT20.JPG

Dê bị mất, có lạc chuồng thì cũng chỉ chạy nhởn nha trên một nẻo đường, ngưòi đi tìm chẳng khó khăn gì để tóm cổ dắt về. Khổ một nỗi, trên mặt đất vốn không có đường, người ta đi lâu thì thành đường thôi như văn hào Lỗ Tấn đã chỉ ra.

Mà đường thì cũng cơ man kiểu loại, với biết bao "ngã ba", "ngã bảy" có biết bao ngóc ngách, ngang dọc, ngược xuôi. Thì đấy, xin mượn thơ Hồ Xuân Hương để lại bàn rộng ra thêm về những ngã ba ngã bảy của con đường trong cuộc sống muôn màu lắm sắc này. Dưới ngọn bút của thiên tài kỳ nữ Hồ Xuân Hương có biết bao con đường.

Này nhé, có " đường đi thiên thẹo quán cheo leo", nhưng lại cũng có"ngõ ngay thăm thẳm đến nhà ông". Mà rồi cái ngõ "ngay thăm thẳm" này chắc không mù mịt, tối tăm như trong "con đường vô ngạn tối om om". Rồi chắc là con đường vô ngạn tối om om này sẽ không giống chút nào với con đường sông chạy xuyên hang núi có "con thuyền vô trạo cúi lom khom". Thế rồi sự cheo leo của những con đường cũng rất đa dạng và lắm vẻ, nhiều hình, nó thiên thẹo, nó gập ghềnh, nó vắng teo, nó lắt léo,nghiêng ngửa, nó vắt ve, nó nổi nênh, nó lênh đênh, nó bập bềnh, nó hỏm hòm hom... Có khi phải leo qua "một đèo một đèo lại một đèo". Có khi chênh vênh ở "hai bên thì núi giữa thì sông" khiến cho "ở trong hang núi còn hơi hẹp, ra khỏi đầu non đã rộng thùng".

Những con đường uốn lượn trong cảnh sắc kỳ ảo" buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng, ban chiều mây họp tối trăng chơi ", hoặc cũng có khi "gió giật sườn non khua lắc cắc, sóng dồn mặt nước vỗ long bong". Nơi đây "chuông gầm sóng", nơi kia"cơn gió thốc", có chốn "nước biếc cảnh leo teo", lại miền "cây xanh hình uốn éo". Đúng là " thiên hình vạn trạng" thật. Dẫn ra làm sao đủ được vẻ kỳ ảo của những con đường mà "bà Chúa thơ Nôm" đã đi, đã đến, đã vẽ ra trong thơ. Vậy là hóa ra đâu phải chỉ là chuyện con đường với lắm "ngã ba" trong triết lý Dương Chu!

Thế là, từ chuyện mèo mà lạc bước vào chuyện những con đường mà nhà thơ độc nhất vô nhị trong thi ca Việt Nam miêu tả, không chỉ lắm ngã ba ngã bảy mà còn phiêu diêu, kỳ ảo để hiểu rằng, cách đây hơn hai trăm năm, một thiên tài, kỳ nữ đã không cam chịu với con đường đã có sẵn. Con người ấy "đã đến quá sớm trong một xã hội lẩm cẩm mà chưa chịu cho mình là già cỗi " để chống trả với sự áp đặt, bắt mọi ngưòi " sống là cứ nhắm mắt cắm đầu đi trên con đường ấy từ bừng sáng đến tối mịt cuộc đời, không được trông, không được nói cái gì ngoài những cái mà người đi trước đã trông thấy và đã nói; và do đó, cũng không cần phải cảm, phải nghĩ nữa. Và có khi nào người đi, sau những buổi đi mỏi mệt, khi đời đã ngả về chiều, ngồi xuống trông mây nghe gió và sờ đến lòng mình thì lòng đã héo khô bao giờ rồi...Giờ đây, trong cõi thơ của Hồ Xuân Hương ra, con người tự cảm thấy lớn hơn cái thân phận của mình, mạnh hơn cả số mệnh". [Nguyễn Đức Bính. "Người Cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương".Tạp Chí Văn Nghệ. Tháng 10.1962].

http://giadinh.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/01/27/cat2.jpg

Thì ra, sự bứt phá khỏi những giáo điều, những khuôn thức xơ cứng và héo mòn kìm hãm sức sống của con người, níu kéo sự phát triển, thời nào cũng có. Trường hợp thiên tài kỳ nữ Hồ Xuân Hương chính là một sự bứt phá quyết liệt. Cái khát vọng phá bỏ những gông xiềng tư tưởng để tìm ra cái mới ở đây mãnh liệt đến nhường nào. Chính từ cái khát vọng đó mà ngày nay chúng ta đồng cảm và trân trọng cái tài thơ độc nhất vô nhị ấy.

Thật ra thì trên hành trình của con người trong suốt chiều dài lịch sử, thời nào cũng có những bứt phá để đẩy lịch sử đi tới. Dương Chu, nhà tư tưởng Trung Hoa thời cổ đại dẫn ra ở trên là một ví dụ. Dấu ấn mà họ để lại chính là một cách nhìn mới giúp con người của thời đoạn lịch sử ấy mạnh dạn đi tới. Có thể dẫn ra đây luận điểm bất hủ của  Marcel Proust trong tác phẩm "Đi tìm thời gian đã mất" mà tạp chí "Time" bầu chọn là một trong tám cuốn sách vĩ đại nhất của mọi thời đại: "một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới". Phải có đôi mắt ấy mới nhìn ra được những "ngã ba, ngã bảy" của cuộc sống. Thì chẳng phải Phạm Văn Đồng trong bài báo cuối cùng của mình viết trên báo Nhân Dân ngày 15.5.1999 đã viết: "có thể nói chúng ta đang đứng ở ngã ba đường. Cần thấy hết tình hình, rút ra kết luận nghiêm khắc" đó sao?

Kết luận nghiêm khắc ấy chắc phải mỗi người có lương tri đang đối diện với thời cuộc phải tự rút ra cho mình.

Tương Lai (Tuần Việt nam)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu