Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Sự kiện Volyn (Wołyń,1943) – một bi kịch lịch sử

04/06/2026 8 phút đọc BBT
Trong quan hệ ngoại giao giữa Ba Lan và Ukraina, vụ tàn sát người Ba Lan tại Volyn luôn là một chủ đề lịch sử nhạy cảm và gây tranh cãi nhiều năm, đặc biệt là sau khi tổng thống Ukraine tuyên bố phong tặng Danh hiệu Anh hùng mang tên “Quân đội kháng chiến Ukraine” (UPA), cho một đơn vị quân đội Ukraine.
Sự kiện Volyn (Wołyń,1943) – một bi kịch lịch sử

Bi kịch lịch sử này bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều nguyên nhân sâu xa và trực tiếp chủ yếu dựa trên việc tranh giành lãnh thổ cộng thêm những yếu tố kích động thanh trừng sắc tộc.
Trước khi tìm hiểu sự kiện này, chúng ta cần biết về bản đồ hành chính của Ba Lan trước và sau hai cuộc thế chiến (I và II).
Trước năm 1919, trong suốt 123 năm, quốc gia Ba Lan độc lập hoàn toàn không tồn tại trên bản đồ thế giới
Lãnh thổ của Ba Lan đã bị ba đế quốc lân bang xóa sổ hoàn toàn sau ba cuộc phân chia Ba Lan (vào các năm 1772, 1793 và 1795).
Vùng Trung tâm và phía Đông do đế quốc Nga chiếm đóng (còn gọi là vùng Vistula), bao gồm: thủ đô Warsaw, các thành phố Łódź, Lublin, Kielce và kéo dài về phía đông sang tận Belarus, Lithuania và Tây Ukraine hiện nay.
• Vùng phía Tây và Bắc do Vương quốc Phổ chiếm đóng, được tổ chức thành các tỉnh của Phổ như Đại công quốc Posen (sau là Tỉnh Posen), Tây Phổ, Đông Phổ và vùng Silesia, bao gồm: các thành phố lớn hiện nay của Ba Lan như Poznań, Gdańsk (Danizg), Wrocław (Breslau) và Szczecin.
• Vùng do đế quốc Áo-Hung chiếm đóng, được đặt tên là Vương quốc Galicia và Lodomeria, bao gồm thành phố Kraków và vùng Đông Tiểu Ba Lan ( (Małopolska – tiếng Áo gọi là Đông Galicia), với trung tâm là Lwów.

Trong Thế chiến I, ba đế quốc nói trên đối đầu trực diện nhau (Đức - Áo đối đầu với Nga). Sự sụp đổ đồng loạt của cả ba đế quốc này sau đó (Nga sa lầy vào Cách mạng Bolshevik, Đức và Áo-Hung thất trận) đã tạo ra một khoảng trống quyền lực lý tưởng giúp các lực lượng kháng chiến Ba Lan giành được chính quyền.

Ngày 11 tháng 11 năm 1918, Cộng hòa Ba Lan thứ hai chính thức tuyên bố độc lập, mở đường cho việc sáp nhập, tranh chấp và thiết lập lại các đường biên giới chính thức của Ba Lan.
Sau Hiệp ước Riga (3/1921), biên giới Ba Lan được kéo dài sang phía Đông, trong đó có các vùng đất mà ngày nay thuộc miền Tây Ukraine (bao gồm cả vùng Đông Tiểu Ba Lan), miền Tây Belarus và vùng Vilnius của Lithuania.

(Bản đồ Ba Lan năm 1937)
(Bản đồ Ba Lan năm 1937)


Vùng Đông Tiểu Ba Lan, bao gồm địa giới của 3 tỉnh Lwów (nay là Lviv), Stanisławów (nay là Ivano-Frankivsk) và Tarnopol (nay là Ternopil) và vùng Đông Nam, nay thuộc tỉnh Podkarpackie, bao gồm các thành phố lịch sử như Przemyśl, Sanok, Jarosław và vùng núi Bieszczady.
Tại vùng Đông tiểu Ba Lan, trong nhiều thế kỷ trước, người Ba Lan thường giữ vị thế tầng lớp tinh hoa, địa chủ và quý tộc. Họ nắm giữ phần lớn đất đai, trong khi người Ukraina đa phần là nông dân nghèo chịu kiếp áp bức. Sau khi kiểm soát vùng này, chính quyền Ba Lan đã thực hiện chính sách "Ba Lan hóa" cưỡng ép, hạn chế ngôn ngữ, chèn ép Giáo hội Chính thống giáo Ukraina và định cư hàng vạn cựu binh Ba Lan trên vùng đất của nông dân bản địa. Những điều này tích tụ sự thù ghét dai dẳng trong cộng đồng người Ukraina đối với người Ba Lan.

Tháng 9 năm 1939, nhà nước Ba Lan sụp đổ sau đòn tấn công của hai cường quốc là Đức Quốc xã từ phía tây và nhà nước Xô viết từ phía đông.

Bắt đầu từ đó, những hành động chống Ba Lan tại Volyn và Đông Tiểu Ba Lan đã xuất hiện. Trước tiên là những vụ tấn công, hành quyết tự phát và các hoạt động phá hoại. Khủng bố ngày càng leo thang, và từ năm 1943 đã mang hình thức tiêu diệt dân thường Ba Lan một cách có kế hoạch và quy mô lớn. Những vụ thảm sát trong giai đoạn này bắt đầu từ một chiến dịch thanh trừng sắc tộc có tổ chức do OUN-B ( Tổ chức Dân tộc Ukraine - phe Stepan Bandera) và lực lượng vũ trang của nó là UPA (Quân đội Kháng chiến Ukraine) thực hiện. Đỉnh điểm là ngày “Chủ nhật Đẫm máu” (ngày 11 tháng 7 năm 1943). UPA đã phát động một cuộc tấn công đồng loạt vào khoảng 150 thị trấn của Ba Lan ở Volyn (Wołyń), cả trong các nhà thờ. Từ đầu năm 1944, các hoạt động chống Ba Lan của UPA lan rộng sang các tỉnh Lviv, Stanisławów và Tarnopol cũ. Ở đó, họ cũng tàn bạo không kém (ví dụ như vụ thảm sát ở Huta Pieniacka).

Tổ chức OUN-B của Ukraine lúc đó theo đuổi hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, hướng tới việc thành lập một nhà nước Ukraina độc lập. Giới lãnh đạo của tổ chức này tin rằng để có một quốc gia tự chủ, họ cần phải xóa bỏ toàn bộ các yếu tố phi-Ukraina (chủ yếu là người Ba Lan và người Do Thái) ra khỏi lãnh thổ. Bước ngoặt diễn ra vào cuối năm 1942 và đầu năm 1943, sau hội nghị lần thứ ba của OUN-B, đã công khai tuyên bố người Ba Lan như một thành phần cần phải bị loại bỏ khỏi vùng Đông Tiểu Ba Lan.

Sự tàn khốc của chiến tranh và chính sách chia để trị của phát xít Đức cũng đã làm tăng thêm những xói mòn mọi chuẩn mực đạo đức xã hội. Đức Quốc xã ban đầu sử dụng lực lượng cảnh sát người Ukraina để đàn áp người Ba Lan. Khi các đơn vị cảnh sát Ukraina đào ngũ và gia nhập UPA vào đầu năm 1943, họ mang theo cả vũ khí lẫn kinh nghiệm tàn sát có được từ các cuộc thanh trừng người Do Thái trước đó để áp dụng lên cộng đồng người Ba Lan.

(Đài tưởng niệm các nạn nhân Volyn)
(Đài tưởng niệm các nạn nhân Volyn)


Tóm lại, xung đột Ba Lan – Ukraina ở các vùng Kresy trong những năm 1918–1939 mang tính dân tộc, xã hội và nhà nước. Nó bắt đầu như một cuộc chiến về lãnh thổ và quyền lực, đặc biệt là về Đông Tiểu Ba Lan và Lviv. Giai đoạn này được coi là những xung đột giữa nhà nước Ba Lan và một bộ phận lớn cộng đồng Ukraina. Đối với Ba Lan, vấn đề là duy trì sự toàn vẹn của nhà nước và quyền kiểm soát các vùng đất tranh chấp; đối với người Ukraina, đó là nỗi đau mất nước, bị gạt ra ngoài lề chính trị và chịu áp lực đồng hóa.
Nhà nước Ba Lan đã có những chính sách đối với người Ukraina đôi khi thiếu nhất quán, đôi lúc cứng rắn và mang tính đàn áp, mà biểu tượng là chiến dịch “bình định” Đông Tiểu Ba Lan năm 1930.
Khí có điều kiện, nghĩa là sau khi nhà nước Ba Lan bị sụp đổ (từ 1939) hoặc còn non nớt (sau 1945), xu hướng dân tộc chủ nghĩa cực đoan của Ukraina đã trỗi dậy, bác bỏ con đường hòa giải hợp pháp và chủ ý leo thang bạo lực. Tổ chức Những người Dân tộc chủ nghĩa Ukraina coi khủng bố là công cụ giáo dục dân tộc và làm mất ổn định nhà nước. Họ muốn tấn công không chỉ các quan chức Ba Lan mà cả những người Ukraina nghiêng về thỏa hiệp, nhằm phá hủy những tư tưởng ôn hòa và phân cực xã hội.

Kết quả là: Bạo lực kéo dài, cả sau khi chiến tranh đi qua vào năm 1945. Theo thống kế, trong các năm 1943–1947, ít nhất 100 nghìn người Ba Lan đã thiệt mạng do những hành động khủng bố nói trên; trong một số cách tính khác còn xuất hiện con số lên tới 130 nghìn nạn nhân trong giai đoạn 1942–1947. Trong thời gian này, các hành động trả đũa của phía Ba Lan (do các nhóm du kích Ba Lan và Quân đội nhà nước – Armia Krajowa thực hiện) cũng đã khiến khoảng 10.000 đến 12.000 người Ukraina thiệt mạng, đẩy căng thẳng sắc tộc lên mức không thể kiểm soát và đổ thêm dầu vào lửa cho các vụ thảm sát tiếp theo từ phía UPA.

Sau Thế chiến II, khi biên giới Châu Âu được phân chia lại, phần lớn đất đai vùng Đông Tiểu Ba Lan lịch sử đã được sát nhập vào Cộng hòa XHCN Xô Viết Ukraina (80%), bao gồm toàn bộ các tỉnh Stanisławów, Tarnopol và phần lớn phía đông tỉnh Lwów. Trong đó bao gồm cả thủ phủ văn hóa và học thuật lâu đời của Ba Lan là thành phố Lwów (nay là Lviv, Ukraine).
Ba Lan chỉ nhận được phần phía tây của tỉnh Lwów cũ nằm ở phía tây Đường Curzon. Vùng đất này được Ba Lan tổ chức lại thành tỉnh Rzeszów (ngày nay phần lớn thuộc tỉnh Podkarpackie) và các vùng Przemyśl, Sanok và Krosno.

Cuộc dịch chuyển biên giới năm 1945 đã làm giảm khoảng 20% tổng diện tích Ba Lan so với thời kỳ 1919, nhưng bù lại, nó biến Ba Lan từ một quốc gia đa sắc tộc phức tạp (với lượng lớn người Ukraine, Belarus, Đức) trở thành một quốc gia có lãnh thổ thuần nhất về mặt sắc tộc như ngày nay.
Xuân Nguyên (Sưu tầm)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu