Cây tà vạt giống như cây dừa, còn gọi là “dừa núi” hay còn gọi là cây đoát, có tên khoa học: Arrenga sacchariferasp. Lá cây tà vạt dùng để lợp nhà, lợp chuồng gia súc, bò trâu... trái của cây tà vạt lên men sẽ được loại rượu rất thơm có vị ngọt, đắng nhẹ…

Cây tà vạt
Cây tà vạt mọc tập trung thành từng cụm ở các triền núi thấp, gần khe, hố. Rượu tà vạt là loại rượu khai vị không thể thiếu trong gia đình và các dịp lễ hội, Tết của đồng bào dân tộc Cơ Tu (Đà Nẵng). Loại rượu này lấy chất dịch thơm, ngọt từ buồng trái của cây, cho lên men, uống rất thơm ngon và bổ dưỡng.
Làm rượu tà vạt không dễ, trước tiên, người ta vào rừng, tìm những cụm tà vạt sống ở gần khe, hố, chọn những cây to, mập mạp, phát dọn quanh gốc rồi làm thang bằng cây và dây rừng từ gốc lên đến các buồng trái.
Thường mỗi cây tà vạt cho bốn, năm buồng nhưng chỉ chọn một buồng có trái vừa, cỡ lớn hơn đầu ngón tay cái. Cứ 3 ngày một lần, người ta leo lên nơi gần buồng, dùng dùi cui - đẽo bằng cây rừng - đập nhẹ chung quanh cuống của buồng trái đã chọn.
Mỗi lần đập khoảng một vài giờ. Sau 4 hoặc 5 lần đập, cắt ngang cuống buồng trái. Sau đó dùng cọng cây môn nước giã dập và bịt ngay đầu mới cắt, bên ngoài bọc bằng lá rừng và buộc lại. Động tác này gọi là "nhử nước".
Khi thấy nơi mặt vết cắt, nước nhỏ giọt nhanh, đều thì gạt bỏ lớp "chất nhử" và treo một cái can 10 lít để hứng. Có thể dùng ống nhựa, lồ ô, giang... để dẫn nước vào can. Chất nước này, lúc vừa chảy ra thì hơi trong, thơm và ngọt.
Để dung dịch này lên men, dùng vỏ cây chuồn dần cho mềm rồi cho vào can rượu theo liều lượng thích hợp. Muốn rượu có nồng độ cao hơn, vị đắng thì cho vỏ chuồn nhiều và ngược lại. Khi rượu đã xúc tác tốt với men thì dung dịch chuyển sang màu trắng đục.
Cây tà vạt cho rượu rất lâu, có thể đến hai, ba tháng mới hết, trung bình mỗi cây tà vạt cho trên dưới 300 lít rượu. Tà vạt ra hoa, có trái hầu như quanh năm nên rượu tà vạt có thể "sản xuất" quanh năm.
Rượu tà vạt thơm ngon, đậm đà nên được người Cơ Tu ưa chuộng, đặc biệt, phụ nữ Cơ Tu uống loại rượu này có làn da mịn màng, tươi sáng.
Phần đọt non của cây tà vạt, người Cơ Tu gọi là “lam tà vạt”. Người ta chọn những cây tà vạt mọc dày, không phát triển được, chặt lấy đọt, bóc ra lấy phần đọt non. Món này dùng để chiên, xào, làm gỏi… hoặc nấu, kho với các loại thịt rừng hoặc tôm, cá. Gỏi được xem là đặc sản của người Cơ Tu miền Trung.

Gỏi tà vạt
Đọt non tà vạt rửa sạch để ráo, sau đó xắt lát dài 10cm, rộng 1cm. Thêm tép khô cũng rửa sạch, để ráo. Khử dầu phộng (thứ thiệt) bỏ vào vài tép tỏi đập giập, khi dầu và tỏi đã bốc mùi thơm, bỏ tép vào khuấy đều, nêm nước mắm, gia vị… sau đó đổ lam tà vạt đã xắt nhỏ vào xoong, đảo nhiều lần cho đều; rải đậu phộng rang (giã giập), rau thơm, ớt rừng vào. Món gỏi tà vạt này ăn vừa giòn vừa thơm, mát ngọt… “nổi” hơn các nguyên liệu khác như cổ hũ dừa, cau, chà là…
L.A (CATP)