Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Tiểu đường từ thuở còn thơ...

10/06/2010 6 phút đọc Giám đốc
Ở nước ta, bệnh tiểu đường ở trẻ em chiếm 7 – 8% tổng số bệnh nhân, chủ yếu là týp 1. Đây là một trong những
Tiểu đường từ thuở còn thơ...

Ở nước ta, bệnh tiểu đường ở trẻ em chiếm 7 – 8% tổng số bệnh nhân, chủ yếu là týp 1. Đây là một trong những bệnh nguy hiểm phổ biến nhất ở lứa tuổi trẻ em, tỷ lệ mắc bệnh mới cao hơn những bệnh khác như ung thư, xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp hoặc loạn dưỡng cơ.

 

Những năm gần đây, bệnh viện Nội tiết trung ương đã tiếp nhận điều trị những cháu bé tiểu đường týp 2 mới sáu tuổi, các trẻ này đều bị thừa cân, béo phì.

 

Điểm mặt tiểu đường

 

Vì dễ phòng mà khó chữa, để tránh đái tháo đường, nên cho trẻ vận động thường xuyên, hạn chế xem tivi, chơi game. Ảnh: LHT
 

Tiểu đường (đái tháo đường) là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm tăng glucoza máu (đường máu), hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin (một hormon của tuyến tuỵ điều hoà chuyển hoá đường máu), khiếm khuyết trong hoạt động của insulin. Tăng đường máu mạn tính dẫn đến sự huỷ hoại, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan nhất là mắt, thận, thần kinh, tim mạch. Người ta chia tiểu đường ra làm hai loại:

 

Tiểu đường týp 1: là loại phụ thuộc insulin, nguyên nhân là do cơ thể xuất hiện kháng thể huỷ hoại các tế bào beta của tuyến tuỵ, làm cho cơ thể thiếu hoặc không có insulin trong máu, khi điều trị bắt buộc phải dùng insulin ngay từ khi mới phát hiện.

 

Tiểu đường týp 2: còn gọi là tiểu đường không phụ thuộc insulin. Cơ thể vẫn sản xuất được insulin nhưng xuất hiện kháng thể kháng lại insulin, làm insulin không có tác dụng trong điều hoà đường trong máu, gây tăng đường máu. Thể này hay gặp ở người thừa cân béo phì và người trên 40 tuổi.

 

Để chẩn đoán bệnh này thì cần phải xét nghiệm đường máu, khi lượng đường trong máu lúc đói ≥ 7mmol/l, hoặc có các triệu chứng của tiểu đường và mức đường máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1mmol/l. Như vậy bệnh tiểu đường không nên gọi là bệnh tiểu đường nữa, vì khi xuất hiện đường trong nước tiểu thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, xuất hiện nhiều biến chứng; nhiều ý kiến cho rằng nên gọi là “bệnh tăng đường máu” (tăng glucoza máu).

 

Bệnh tiểu đường ở trẻ em lâu nay chủ yếu gặp ở týp 1 nhưng hiện týp 2 cũng đã gia tăng, nhất là trẻ ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam. Các nghiên cứu ở Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy tỷ lệ tiểu đường týp 2/týp 1 ở lứa tuổi trung học là 4/1. Nguyên nhân chủ yếu là do gia tăng tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì.

 

Dễ phòng, khó chữa

 

Tiểu đường týp 1 là thể nặng của bệnh tiểu đường, nếu không được điều trị dễ xảy ra các biến chứng nặng. Do đây là bệnh tự miễn nên vấn đề phòng bệnh cấp 1 (phòng mắc bệnh) không được đặt ra, mà chủ yếu là phòng cấp 2 (phòng các biến chứng), tức là phải kiểm soát tốt lượng đường trong máu. Vì vậy khi trẻ có các triệu chứng như đái nhiều, uống nhiều, gầy nhiều, hoặc các triệu chứng nhiễm toan ceton nặng như mất nước, chán ăn, nôn... cần phải đưa trẻ đi khám ngay.

 

Cần xóa quan niệm “trẻ mập mạp mới khoẻ”

Trẻ khoẻ mạnh là trẻ có cân nặng và chiều cao phát triển bình thường, hoạt bát thông minh, ưa hoạt động, chứ không phải là một đứa trẻ mập ú, ngồi lì một chỗ. Ngoài nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường týp 2, trẻ béo phì còn có thể mắc nhiều bệnh lý khác như tăng huyết áp, sỏi mật, ung thư, xương khớp... Vì vậy các bậc phụ huynh nên xoá bỏ quan niệm trẻ mập mạp mới là khoẻ mạnh.

Về điều trị, bắt buộc phải dùng insulin theo chỉ định bác sĩ. Chế độ ăn cũng phải tính đủ calo để duy trì cân nặng lý tưởng của trẻ, đảm bảo phát triển bình thường. Các bữa ăn nên chia nhỏ trong ngày, tốt nhất là sáu bữa: bữa sáng, bữa phụ sáng, bữa trưa, bữa phụ chiều, bữa tối, bữa phụ trước khi đi ngủ. Thành phần các chất dinh dưỡng và tỷ lệ năng lượng của các chất sinh nhiệt như chất đạm, chất béo, chất bột đường vẫn phải cân đối và hợp lý vì đây là lứa tuổi cần năng lượng phát triển cả về thể lực và trí tuệ. Tốt nhất, khi xây dựng chế độ ăn cho trẻ cần có sự phối hợp giữa thầy thuốc chuyên khoa nội tiết và dinh dưỡng.

 

Vấn đề luyện tập cũng là một trong những biện pháp điều trị, nhưng ở tiểu đường týp 1 mục đích luyện tập không phải là để tiêu hao năng lượng làm giảm cân, mà là để làm tăng độ nhạy cảm của insulin (tăng tác dụng của insulin), tăng trương lực cơ. Việc luyện tập phải phù hợp với sức khoẻ và sở thích cá nhân, nên tập những môn rèn luyện sự dẻo dai, bền bỉ hơn là những môn sử dụng nhiều thể lực, trong khi luyện tập nguồn năng lượng mất đi cần được bổ sung.

 

Khác với tiểu đường týp 1, týp 2 có thể phòng ngừa nếu kiểm soát được cân nặng của trẻ. Ở các gia đình có người bị tiểu đường týp 2 thì nguy cơ trẻ bị tiểu đường là rất cao. Trước hết trẻ cần có chế độ ăn uống hợp lý; không ăn uống nhiều thực phẩm chứa đường ngọt, nhiều chất béo, fastfood (thực phẩm ăn nhanh, chế biến sẵn như: gà KFC, khoai tây chiên), nước ngọt, xúc xích, patê, lạp xưởng, bánh ngọt, kem, chè… Hạn chế các thức ăn chiên, rán. Nên tập cho trẻ có thói quen ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi ít ngọt, thức ăn luộc, hấp. Không ăn vặt, không ăn muộn sau 8 giờ tối. Các thực phẩm nên cho trẻ ăn là thịt nạc, cá, tôm, cua ở mức vừa phải, ăn nhiều rau xanh, uống nước quả tươi không đường hoặc nước đun sôi để nguội. Vấn đề quan trọng là tăng cường cho trẻ vận động, tập thể dục thể thao, hạn chế xem tivi, chơi điện tử. Khi thấy trẻ tăng cân nhanh, phải đưa đi khám để được bác sĩ tư vấn chế độ ăn và hướng dẫn chế độ luyện tập phù hợp.

 

ThS.BS Lê Thị Hải - Giám đốc trung tâm dinh dưỡng, viện Dinh dưỡng quốc giaSGTT

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu