Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Vai diễn đẹp của Tổng thống Dương Văn Minh

29/04/2010 13 phút đọc BBT
Ngày 28/4/1975: Dương Văn Minh nhậm chức. Ngày 29/4/1975: Mỹ kết thúc di tản. Ngày 30/4/1975: Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn.
Vai diễn đẹp của Tổng thống Dương Văn Minh

Ngày 28/4/1975: Dương Văn Minh nhậm chức. Ngày 29/4/1975: Mỹ kết thúc di tản. Ngày 30/4/1975: Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn. Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa rời sân khấu.

 

Quyết tâm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Bắc Việt Nam thu được toàn bộ thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài, bền bỉ và nhất quán của mình một cách nhanh chóng như có thể, được thể hiện rõ qua hoạt động ở trại “David” trong căn cứ quân sự Tân Sơn Nhất của phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đàm phán về việc thi hành Hiệp định Paris.

Đại tá Giang, trưởng phái đoàn, ngày 26/4 đã phát biểu trong cuộc họp báo hàng tuần với giọng nói rất kiên quyết; gương mặt ông không hề xúc động, ánh mắt lạnh lùng, nụ cười tủm của ông làm lộ rõ mạch máu trên mặt.

Ông đọc các điều khoản của một cuộc đầu hàng vô điều kiện. Sau đó một sĩ quan Việt Cộng cười nói với tôi: “Tuần tới chúng ta có thể họp báo trong thành phố rồi, tại ngay Sài Gòn!”

Là sự tiên đoán? Hay niềm tin? Có phải đó là một câu được trích dẫn từ một kế hoạch đã vạch sẵn, hay lỡ lời? Có thể đúng tất cả. Nói đến một mẫu số chung: Ý chí và niềm tin sẽ chiến thắng trong thời gian ngắn.

Ngày 28/4/1975: Dương Văn Minh nhậm chức

Bốn quả rocket bắn vào Sài Gòn nửa đêm đã cảnh tỉnh và chỉ cho các chính khách Sài Gòn biết rằng thời gian dành cho họ đã trôi qua rồi, đã bắt đầu bước sang một trang mới: hoặc họ thực hiện các điều kiện do phía Bắc Việt đưa ra, trong đó trước hết phải loại bỏ tất cả những người liên lụy đến chế độ Thiệu ra khỏi chính phủ, hoặc là trận mưa không kích đổ xuống Sài Gòn, đài Giải phóng đã đưa tin từ vùng chiến khu như vậy.

Đó là đại cương tình hình chính trị, quân sự và tâm lý của Sài Gòn vào chiều ngày 28/4 - lúc tướng “Big Minh” đọc diễn văn tiếp nhậm chức Tổng thống đầy đủ quyền lực.

 

 Xe tăng quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975  (Ảnh tư liệu).
Xe tăng quân giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 (Ảnh tư liệu).

 

Trong gian phòng lớn của dinh - nơi Thiệu đã biến thành một dinh lũy đối địch và không thể tiếp cận - tất cả họ đã có mặt đông đủ, những người chịu trách nhiệm về sự “phá sản” Nam Việt Nam với nhiều quy mô khác nhau.

Họ tỏ ra yên tâm và thanh thản; bầu không khí gần như không thực tế. Trần Văn Lắm, Chủ tịch Thượng viện, ngồi không nhúc nhích trong chiếc ghế của mình.

Ông là người duy nhất không nói lời nào, chỉ chào nhau một cách lạnh lùng. Có thể ông ta cay cú vì sao ông không giành được chức vụ nhà nước cao nhất, nhưng ông lại không tự hỏi mình tại sao chính phủ mà ông là thành viên luôn ngoan cố khước từ việc tìm cách thỏa hiệp chính trị mà Hiệp định Paris đã chỉ ra rõ ràng - Hiệp định mà ngày nào ông đã tham gia ký kết với tư cách là ngoại trưởng.

Tiếng nói của một diễn giả hướng dẫn các bước khác nhau của lễ nhận chức Tổng thống của ông Minh, như một điệu múa balê của ma quỷ.

Không ai tin vào triển vọng thành công của bước thử nghiệm cực kỳ khó khăn này nhằm ngăn chặn chuyển giao vô điều kiện cho Mặt trận Giải phóng và Bắc Việt Nam, sau khi họ đã chiếm cứ điểm Biên Hòa và đang còn cách dinh chỉ có mấy cây số, tại cửa ngõ thành phố.

Sự bất lực của giới chính khách và nghị sĩ trong việc dù chỉ vạch ra một đường lối chính trị cấp tiến cùng những tham vọng không bào chữa được sau này của cựu Phó tổng thống Hương (là người kế tiếp Thiệu hợp hiến) đã làm mất đi không gian hành động còn lại mà không có gì bù đắp lại được.

Ông Minh có lẽ đã nhận thức được điều đó khi luôn nhắc đến thỏa ước hòa bình trong bài diễn văn của ông và đề nghị ngừng bắn cũng như bắt đầu đàm phán.

Minh, người vắng bóng 10 năm trên chính trường, đã để sự cẩn trọng điều hành: Ông lo sợ cú đánh lén của các tướng không nhân nhượng nằm ngoài sự kiểm soát của ông và ông không có thiện cảm.

Công việc mà ông Minh tiếp nhận còn cao hơn quyền lực nhà nước, không phải là hưởng thụ sự bàn giao – thực ra đó là nhiệm vụ xóa bỏ các thương vụ quân sự, chính trị đã bị phá sản của Thiệu và chấm dứt sự có mặt - luôn là gánh nặng - của Mỹ ở Việt Nam.

Không lâu nữa, đã rõ ông Minh đi theo dấu chân của ai. Những chức sắc cao cấp ngồi trong ô tô bộ trưởng không phải từ dinh Độc lập đến khi hai chiếc máy bay ném bom sân bay Tân Sơn Nhất; máy bay mang bảng hiệu Sài Gòn, một cột lửa bốc cao, rồi tiếng súng nổ liên hồi, cả thành phố hốt hoảng và sợ hãi.

Đó là hai chiếc trong số các máy bay của quân đội Thiệu, khi “rút lui chiến lược” bị bỏ lại tại Đà Nẵng, và ngày nay quân Bắc Việt Nam dùng nó để mang bom đến ném thành phố này.

Dòng người bối rối chạy trốn vào các cổng nhà, quán bar và khách sạn, không hiểu việc gì vừa xảy ra, họ đoán có đảo chính, trong lúc đó trên đài phát thanh công bố lệnh giới nghiêm 24/24.

Về sau tình hình này được giải thích rõ, thì cảnh rối loạn và bất ổn càng làm tê liệt thành phố. “Đó là sự bắt đầu của kết thúc”, anh nhân viên khách sạn nói với tôi.
 
“Nếu họ dám mở các cuộc tấn công như thế này, thì họ cũng có thể làm tất cả, họ quyết tâm đi đến cùng không có đàm phán”. Cái điểm mà họ đạt đến, đương nhiên chưa có thể đoán trước được. Anh nhân viên khách sạn chắc không nhầm. Đài phát thanh Giải phóng - và đài Hà Nội phát lại sau đó - bình luận lời ông Minh kêu gọi đàm phán tức khắc là điều nực cười.

Ngày 29/4/1975: Mỹ kết thúc di tản

Đêm trải qua trong tiếng pháo tấn công liên tục vào sân bay Tân Sơn Nhất. Người ta biết ông Minh giữ quan hệ với phái đoàn Việt Cộng đóng trong trại David ở sân bay Tân Sơn Nhất, nhưng nước cờ của ông không ai có thể theo sát, càng không thể hiểu được triển vọng của những nỗ lực của ông.

Sáng ngày 29/4, Sài Gòn thức giấc một cách bớt căng thẳng và còn lo sợ, đường phố vắng tanh, cửa hàng đóng kín. Trong một thông cáo ngắn do đài phát thanh phát đi, Minh tuyên bố, ông đã yêu cầu người Mỹ rời khỏi đất nước trong vòng 24 tiếng đồng hồ. “Đức Mẹ muốn con gọi họ về tức khắc”, đó là bức thông điệp được giải mã mà sứ quán Mỹ kết thúc kế hoạch di tản cuối cùng phát qua đài phát thanh Mỹ tại Sài Gòn.

Có một câu không nói ra – nó là sự kết thúc kinh nghiệm cay đắng đối với người Mỹ và mở ra một thời đại mới ở Việt Nam- câu nói ấy đặt một dấu chấm hết, kết thúc chủ nghĩa bá quyền phương Tây.

Người Mỹ rút lui, và nền “hòa bình đầy danh dự” mà họ ký kết trước đó 2 năm tại Paris sẽ bảo vệ trước họ thất bại quân sự. Nhưng có một thất bại còn nằm lại đây, có thể nó còn trầm trọng và nhục nhã hơn nhiều so với thất bại quân sự.

(...)

Và đúng là một đêm đầy sợ hãi. Từng nhóm một binh sĩ không có sĩ quan chỉ huy đi trên đường phố, họ bắn giết, cướp của hoặc tìm đường tháo thân.

Nhưng họ cũng bắn giết để trả thù, họ cảm thấy bị người Mỹ phản bội mà máy bay trực thăng của Mỹ vẫn bay lượn trên trời, và họ bắn để trút hết sự căm giận lên tất cả.

Ngày 30/4/1975: Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn

Vào sáng hôm sau, ngày 30/4 là một thành phố suy kiệt và hết sức sợ hãi trong cơn nguy hiểm. Trên các đường phố đã vắng tanh đã xuất hiện lực lượng dân quân, các chàng trai còn rất trẻ, có thể chưa đến 15 tuổi, trong bộ trang phục màu đen, súng tiểu liên trên vai, hình như họ muốn kiểm tra giấy tờ của chúng tôi. (...) Ấn tượng về sự tan rã đã bao trùm lên tất cả. Người ta chờ sự xác nhận chính thức cũng sắp diễn ra.

Tướng “Big Minh” – vị tổng thống từ 16 tiếng đồng hồ qua - ra lệnh cho quân đội ông ngừng bắn và không được chống cự.

Ông Minh cũng đề nghị “những người binh lính anh em của Chính phủ cách mạng lâm thời” ngừng chiến sự.

Bây giờ Sài Gòn là một thành phố cởi mở, nền Cộng hòa Việt Nam không còn tồn tại nữa. Đối với những sĩ quan, cuộc chiến tranh đã kết thúc. Nhưng nỗi lo lắng về tương lai còn đè nặng hơn thất bại vừa qua, họ lại lo sợ “những người bên kia”.

Ngày càng có ít binh lính đi qua, cuối cùng không còn thấy ai nữa. Quảng trường trước hạ viện mà nổi bật là khách sạn Continen-tal và Caravelle - nơi có hàng trăm phóng viên báo chí ngoại quốc ở lại đang trú ngụ -hầu như vắng lặng.

Sự yên lặng nặng nề. Sự chờ đợi căng thẳng thần kinh. 12 giờ trưa trôi qua, liền có một người Việt Nam chạy vào khách sạn hô to: “Họ đã đến, Việt Cộng đến rồi!”.

Hai tiếng súng nổ khô khóc đã át đi lời anh ta, khác với tiếng nổ đêm qua. May mắn không có tiếng đáp trả. Mấy giây phút trôi qua, trên quảng trường xuất hiện một chiếc xe jeep, trên đó mấy người đàn ông khoác vũ khí trên vai. Trên đầu họ cờ Mặt trận Giải phóng phấp phới bay - ngôi sao vàng trên nền cờ nửa xanh, nửa đỏ.

Chưa đầy 10m sau họ phía sau họ có một chiếc xe tải chở đầy bính lính trong quân phục màu xanh lá cây, đầu đội mũ cối. Sau một hồi bối rối, tất cả chúng tôi rời khách sạn và tiến đến gần họ. Họ cười và chào chúng tôi như gặp lại bạn cũ sau chuyến đi xa.

Họ hết sức trầm tĩnh như họ chuẩn bị một cuộc diễu binh, không giống những người chiếm giữ các vị trí then chốt trong thành phố. Từng đoàn xe tăng, xe vận tải và xe jeep Bắc Việt Nam, ngụy trang trong nhánh lá cây xanh, chạy cuồn cuộn trên các con đường thành phố.

Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa rời sân khấu


Tại dinh Tổng thống, “Big Minh” đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Không thể nói là chuyển giao quyền lực chính phủ, mà đơn giản mà rõ ràng là một sự từ chức, rời khỏi sân khấu.

Minh bước ra ngoài, xung quanh ông là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ông ra xe jeep. Gương mặt của ông trông thiểu não và căng thẳng.

Trước khi bước lên xe, nổi rõ trước cửa xe có chân dung Hồ Chí Minh, ông nói nhỏ: “Để cứu mạng sống con người, tôi đã phải hành động như vậy”.

Trí tuệ con người lành mạnh của ông đã tránh cho thành phố một thử thách ác liệt và ngăn chặn không cho chiến tranh kết thúc với một chương đổ máu tiếp tục.

Bên ngoài hàng rào, ngày càng có nhiều xe tăng, pháo binh và xe bọc thép ngụy trang chạy tới. Những người ngồi trên xe rất hớn hở, cười tươi và chào hỏi những người Sài Gòn đầu tiên xuống đường ngắm nhìn họ. Rất nhiều người chào lại với vẻ rất phấn chấn, nhiều người cảm thấy rất thoải mái dễ chịu, bởi vì cơn ác mộng về một trận đánh đã tan biến trong tâm trí họ, một trận đánh nếu xảy ra họ chỉ là những diễn viên chính thụ động.

Nhiều người đứng quan sát với cảm giác lẫn lộn, vừa tò mò, vừa ngạc nhiên. Bầu không khí căng thẳng tan biến dần, những nỗi lo sợ của những giờ qua hình như đã bay biến mất.

Những gì người ta chứng kiến đầu tiên ở đây là sự tuyên truyền của chế độ cũ bị trừng phạt. Bốn binh lính quân đội Nam Việt Nam trên chiếc xe jeep chạy tới chạy lui, vô phương hướng, bỗng nhiên dừng lại trên đường phố, trên đầu họ phấp phới ngọn cờ trắng. Họ mặc một phần quân phục và súng ống còn đầy đủ. Trên gương mặt họ hiện lên nỗi lo sợ, họ hút thuốc – thần kinh bối rối.

Nhưng không ai quan tâm đến họ. Những người chiến thắng không chủ tâm để bị lôi cuốn vào sự trả thù lẫn nhau. Cuộc chiến tranh mà họ đã thắng - sau này một sĩ quan giải thích cho tôi rõ – không phải họ tiến hành chống lại người Việt Nam, mà chống lại người Mỹ.

Tại tòa nhà thị chính, tôi nhìn thấy một chiến sĩ Việt Cộng đã để một cảnh sát chế độ cũ bỏ chạy, có thể điều đó ngược lại mong muốn của ai đó đã nhận ra anh, muốn nhìn thấy có một bản án sơ sài dành cho anh ta.

Ottavio Di Lorenzo - Bản dịch từ tiếng Italia của Monika Lopez

(Tạp chí Xưa Nay tháng 4/2010)

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu