Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Về một số truyện ngắn của các tác giả Việt tại Ba Lan

27/08/2009 10 phút đọc Hoàng Trọng Hà
1. Có thể nhiều bạn đọc sẽ đặt câu hỏi có hay không cái gọi là truyện ngắn  của người Việt tại Ba Lan, mặc dù
Về một số truyện ngắn của các tác giả Việt tại Ba Lan

1. Có thể nhiều bạn đọc sẽ đặt câu hỏi có hay không cái gọi là truyện ngắn  của người Việt tại Ba Lan, mặc dù trong mười năm (1999 - 2009) "Quê Việt” và "Văn Việt” đã cố gắng giới thiệu khoảng hơn 100 truyện ngắn (kể cả truyện cực ngắn).

ảnh mang tính minh họa
ảnh mang tính minh họa

  Với số lượng ấn loát khá khiêm tốn nhằm phục vụ cộng đồng ở đây và suốt một thời gian dài chưa có trang điện tử (chỉ mới khai trương từ tháng 3-2009), báo Quê Việt còn tương đối lạ lẫm với đông đảo bạn đọc người Việt ngoài Ba Lan. Lẽ dĩ nhiên nhiều sáng tác thơ văn của người Việt trên tờ báo này cũng chưa được chuyển tải tới một đối tượng bạn đọc rộng rãi hơn. Vả lại, con số hơn 100 truyện ngắn ấy tuy nói lên được niềm say mê, khả năng sáng tác và sự "quên mình” của những người cầm bút không chuyên ở một nơi mà câu ngạn  ngữ „thì giờ là vàng bạc” luôn luôn có hiệu lực, nhưng không phải toàn bộ đều là truyện ngắn đúng với ý nghĩa của thuật ngữ này. Một số sáng tác còn lộ rõ tính chất nghiệp dư: cốt truyện sơ sài - đang ở dạng phác thảo hay chỉ mới là những chuyện kể chưa được "gia công”, đầu tư nhiều về mặt nghệ thuật để trở thành những truyện ngắn thực sự.

 Tuy thế, suốt thời gian qua, nhiều tác giả đã trở nên quen thuộc với bạn đọc "Quê Việt” bởi ấn tượng tốt đẹp được tạo ra từ các truyện ngắn của họ. Đó là Thiên Nam, Nguyễn Đính, Trần Hoài Văn, Trà My, Xuân Nguyên, Thanh Hiên, Minh Ngọc, Lâm Hải Phong, Nguyễn Trung Thành, Thủy Tiên, Tùng Thanh (Kim Kim), Trương Đình Toe... Hai phần ba số tác giả này cũng là những người làm thơ. Nhiều tác giả hiện nay không còn sinh sống ở Ba Lan (Trà My, Thanh Hiên, Minh Ngọc, Lâm Hải Phong, Trần Hoài Văn). Có tác giả về nước đã trở thành người làm nghệ thuật chuyên nghiệp (Trần Hoài Văn). Một điều đáng quan tâm và cũng đáng buồn (tương tự như ở thể loại thơ) là những người viết trẻ, những cây bút văn xuôi mới còn chưa xuất hiện.

    2. Nếu như những người Việt tại Ba Lan làm thơ để thể hiện cảm xúc của mình trước cuộc sống xa xứ thì mối quan tâm của các cây bút truyện ngắn là khắc họa những bức tranh về đời sống người Việt trên đất khách quê người với những đường nét, những chi tiết cụ thể và chân thực.

  Hơn hai triệu người Việt hải ngoại giống nhau về thân phận tha hương, nhưng đời sống ở mỗi nơi vẫn có những nét khác biệt do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện sống nơi đó tạo nên. Qua những truyện ngắn, người đọc sẽ nhận ra những nét khác biệt ấy.Những ai chưa từng đặt chân tới Đông Âu và Ba Lan qua truyện ngắn sẽ ít nhiều hiểu được người Việt tới đây bằng cách nào và sinh sống ra sao? Họ nghĩ gì và ao ước gì?... Các truyện ngắn được viết ra từ ngòi bút của những "nhân chứng”, những "người trong cuộc” đã đem lại cho người đọc cái nhìn trung thực về cuộc sống của người Việt với những nét đặc thù trên đất nước Ba Lan: chuyện vượt biên, chuyện cư trú và làm ăn buôn bán, quan hệ giữa người Việt với nhau, quan hệ giữa người Việt với người bản xứ...

   Hầu như tất cả những người Việt đặt chân tới mảnh đất này đều mang một ước vọng hết sức chính đáng: thoát khỏi nghèo khó, mưu cầu một cuộc sống tốt hơn hay ít ra cũng dễ chịu hơn. Họ đã trở thành nhân vật trung tâm của truyện ngắn. Đó là những trí thức với tiền lương "ba cọc ba đồng” của chế độ bao cấp (người thầy trong " Thầy” của Thiên Nam), người đi xuất khẩu lao động ở lại trong thời kì các nước Đông Âu thay đổi thể chế chính trị (nhân vật nữ trong "Đường về” của Nguyễn Đính) và cả những người từ trong nước bị cơn lốc kiếm tiền của thời buổi kinh tế thị trường nhổ bật ra khỏi làng quê, thành thị, khỏi tổ ấm của mình (nhân vật chị Tình trong "Hai phía chân trời” của Trần Hoài Văn) ... Cơn lốc ấy đã xô bạt nhiều số phận, đẩy không ít người vào những ngã rẽ oái oăm: hoặc phải trả bằng những cái giá rất đắt để đến được miền "đất hứa”, hoặc không có giấy tờ tùy thân, trốn cảnh sát, trốn biên phòng như trốn nợ, mẹ con chia lìa, gia đình tan vỡ... ("Dĩ vãng thao thức” – Kuáng Tê, "Nàng” – Thiên Nam, "Kẻ cắp bà già” – Trần Hoài Văn, "Em tôi cưới giả” – Nguyễn Trung Thành...). Qua các truyện ngắn, cuộc sống nơi đất khách quê người hiện lên không hề "thuận buồm xuôi gió” mà ngược lại - đầy gian nan, cay cực. Hướng đến những thân phận trôi nổi, những số phận bấp bênh, những cảnh ngộ trớ trêu với tất cả sự cảm thông là điểm nổi bật của nhiều truyện ngắn.

  3. Khai thác hiện thực cuộc sống và con người với những sự thật trần trụi, những tình huống nghiệt ngã, dữ dội là đặc điểm nổi trội trong sáng tác của Thiên Nam và Trần Hoài Văn.

 Thiên Nam với ba truyện ngắn " Cha”, "Thầy”"Nàng” đã tạo nên một bức tam bình độc đáo về ba mối quan hệ tình cảm chủ yếu của con người: tình cha con, tình thầy trò, tình yêu. Trong bộ tam bình ấy, "Thầy” xứng đáng là truyện ngắn hay nhất của Thiên Nam mặc dầu tác giả đã khiêm tốn ghi dưới tựa đề hai từ chuyện kể (chứ không phải truyện ngắn). Hình ảnh người thầy được tái hiện qua lời kể của nhân vật "tôi”  học trò cũ vốn xem thầy là thần tượng. Người thầy đó trong kí ức của chàng sinh viên trẻ vừa uyên bác về kiến thức vừa mang cốt cách của một nghệ sĩ và là một tấm gương về lối sống đạo đức – hình mẫu cổ điển của người thầy theo quan niệm truyền thống của người Việt. Số phận run rủi hai thầy trò lại được tái ngộ giữa trời Âu xa xôi. Người thầy thần tượng xuất hiện trước mắt trò cũ cũng vẫn là người thầy say sưa nói chuyện thơ như ngày xưa như giờ đây còn biết buôn máy tính, biết cách nhét đô la vào hậu môn để qua mặt hải quan... Với cốt truyện hợp lí, các chi tiết độc đáo, "Thầy” của Thiên Nam đã dựng nên một hình tượng nhân vật có sức khái quát: người thầy không phải là hiện tượng cá biệt mà tiêu biểu cho một bộ phận trí thức người Việt đang tìm cách kiếm sống trên mảnh đất Đông Âu vào những thập niên cuối thế XX.

  Từng trải qua nhiều năm học tập và làm việc ở Nga và Ba Lan, với sức viết dồi dào, Trần Hoài Văn đã cho ra đời một loạt truyện ngắn:"„Chuyện cổ tích bên một dòng sông”, "Chuyện cổ tích dành cho người lớn”, "Kẻ cắp bà già”, "Máu của tuyết”, "Hai phía chân trời”... Các truyện ngắn của anh thường lôi cuốn sự quan tâm của người đọc bởi đề tài và nhân vật gần gũi với cuộc sống của nhiều người Việt; bởi cách kể chuyện hấp dẫn, cốt truyện li kì và một thứ ngôn ngữ khá "bụi bặm”. "Hai phía chân trời” có thể xem là một truyện ngắn tiêu biểu. Tình - nhân vật chính trong tác phẩm là một phụ nữ nhân hậu, sống ở một miền quê nghèo. Thương chồng thương con, chị đã cùng với đứa con gái lớn rời quê hương mong tìm sự thay đổi số phận ở một nơi xa ngái. Nhưng mưu cầu hạnh phúc lại gặp toàn bất hạnh: trên đường vượt biên con chị bị mất tích, còn bản thân chị đã trở thành vợ người khác (dẫu là tự nguyện để trả ơn người cứu mình). Trong khi ấy, chồng con chị nơi quê nhà – phía khác của chân trời – đang ngày đêm trông ngóng. Một sự bế tắc đến tận cùng mà người trong cuộc chỉ còn cách  "ngửa mặt kêu trời” ...

    4. Bên cạnh những tác giả thiên về khai thác khía cạnh bi kịch của hiện thực như: Thiên Nam, Kuáng Tê, Nguyễn Đính, Trần Hoài Văn, Xuân Nguyên... còn có một số tác giả lựa chọn cái hài để thể hiện. Đó là Tùng Thanh và Trương Đình Toe.

  Tùng Thanh với một loạt truyện ngắn: "Ô hay...họ đâu rồi”, „Hoan hô các đại biểu doanh nghiệp”, "Chuyện vợ tôi có râu”. "Đại Thánh giáng bar”... đã thể hiện khả năng hài hước của mình. Tiếng cười được tạo ra trong truyện của anh rất tự nhiên và hợp lí chủ yếu dựa vào các tình huống và sự phóng đại. Chẳng hạn trong "Ô hay...họ đâu rồi” , tình huống các đại biểu chuẩn bị lên máy bay để về nước bị mất tích và việc tìm ra họ đã đưa đến một kết thúc bất ngờ làm bật ra tiếng cười ở người đọc.

 "Dạy học là một nghề vất vả”"Bà Hiền đi tây” của Trương Đình Toe  cũng là hai truyện ngắn mang đậm chất trào phúng. Nhưng trong "Bà Hiền đi tây” không chỉ có tiếng cười mà hình như còn có cả nước mắt bởi tính nghiêm túc của vấn đề mà tác giả đặt ra: dạy dỗ như thế nào những trẻ em Việt sinh ra và lớn lên ở nước ngoài.

  5. Sau hết, theo cách nói của người xưa: "quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, dù không chiếm ưu thế về số lượng (như thơ) nhưng có thể nói truyện ngắn của các tác giả Việt tại Ba Lan đã đáp ứng được phần nào nhu cầu thưởng thức văn học của cộng đồng ở đây và góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn xuôi người Việt tại hải ngoại.

Vác-sa-va,  tháng 7-2009

Hoàng Trọng Hà

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu