Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Thế kỷ 21: Ai soán ngôi bá chủ Thái Bình Dương?

10/09/2009 15 phút đọc Trung Quốc
Washington và Bắc Kinh - ai sẽ là bá chủ quân sự ở Thái Bình Dương trong thế kỷ 21? Mỹ sẽ giữ vững vị thế của mình
Thế kỷ 21: Ai soán ngôi bá chủ Thái Bình Dương?

Washington và Bắc Kinh - ai sẽ là bá chủ quân sự ở Thái Bình Dương trong thế kỷ 21? Mỹ sẽ giữ vững vị thế của mình hay sẽ đuối sức trước một đối thủ đang tăng tốc bứt phá? 

Quân đội Trung Quốc đang lớn mạnh và nhiều người dự đoán họ sẽ sớm giành ngôi bá chủ Thái Bình Dương từ tay Mỹ. Aaron L. Friedberg cho rằng Washington đang tụt hậu nghiêm trọng trong cuộc chạy đua vũ trang của thế kỷ 21. Song Robert S. Ross lại cho rằng sức mạnh quân sự và thế lực của Mỹ ở Đông Á vẫn là trở ngại lớn mà Trung Quốc khó lòng vượt qua.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu cuộc tranh luận thú vị giữa Aaron L. Friedberg, Giáo sư Chính trị và Ngoại giao của ĐH Princeton và Robert S. Ross, Cố vấn cấp cao của Chương trình Nghiên cứu An ninh thuộc Học viện MIT, trên tạp chí National Interest về chủ đề này.

 

Trung Quốc sẽ giành ngôi bá chủ Thái Bình Dương?

 

- Aaron L. Friedberg -

Được kích hoạt bởi sự biến đổi địa chính trị sau Chiến tranh Lạnh, được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng nhảy vọt của nền kinh tế, và được chèo lái bởi sự hòa trộn giữa bất ổn và tham vọng, sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang ngày một tăng lên. Đã đến lúc Mỹ không thể tiếp tục coi thường những thách thức quân sự do Trung Quốc đặt ra.

 

Ngay từ trước khi Liên Xô sụp đổ, các chiến lược gia Trung Quốc đã bắt đầu chuyển mối quan tâm từ việc chuẩn bị cho một cuộc “chiến tranh nhân dân” toàn diện chống lại kẻ xâm lược mang vũ khí nguyên tử đến từ phương Bắc sang thứ mà họ gọi là “cuộc chiến cục bộ trong điều kiện công nghệ cao”.

 

Cuộc chiến này sẽ được thực hiện trong vùng biển và vùng trời phía đông Trung Quốc, và chỉ sử dụng vũ khí thông thường. Vùng biển phía đông Trung Quốc là cái nôi của những hiểm họa lớn với nước này, đến từ xu hướng ly khai Đài Loan, chủ nghĩa bá quyền Mỹ và xu hướng quân phiệt trong một bộ phận người Nhật, hoặc trong tình huống xấu nhất là cả ba hiểm họa xảy ra cùng lúc.

 

Trong suốt 20 năm qua, sự thay đổi về chiến lược này đã được phản ánh qua việc Trung Quốc tập trung xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt về hải quân và hàng không vũ trụ.

Nhờ kinh tế phát triển mạnh mẽ, Bắc Kinh có thể tiếp tục tăng ngân sách quốc phòng mà không tạo ra gánh nặng đáng kể đối với xã hội. Theo số liệu mới nhất từ Bộ Quốc phòng Mỹ, từ năm 1996 tới 2008, ngân sách quốc phòng công khai của Trung Quốc tăng trung bình 12,9%/năm trong khi GDP tăng khoảng 9,6%. Thực tế có thể nhiều hơn như vậy.

 

Các quan sát viên phương Tây đôi khi có xu hướng hạ thấp tầm quan trọng của những số liệu này. Sau Chiến tranh lạnh, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tỏ ra nghèo nàn, lạc hậu và rất cần được hiện đại hóa. Mặc dù Trung Quốc đã đổ rất nhiều tiền vào việc trang bị vũ khí nội địa và ngoại nhập, nhiều người cho rằng sức mạnh quân sự của nước này vẫn sẽ tiếp tục thua xa Mỹ.

 

Trong suốt những năm 1990, đa số chuyên gia tin rằng Bắc Kinh chỉ quan tâm tới việc tìm kiếm biện pháp cưỡng chế hoặc tấn công Đài Loan. Khi quy mô và vai trò của chiến lược xây dựng lực lượng vũ trang Trung Quốc hiển lộ rõ rệt hơn, họ lại tự an ủi rằng Trung Quốc là một quốc gia đang lên và việc nước này tăng cường sức mạnh, mở rộng tầm ảnh hưởng và bảo vệ các lợi ích của mình là hoàn toàn tự nhiên và tất yếu.

 

Tàu sân bay USS Kitty Hawk của Mỹ. Ảnh: vitinfo.com.vn

 

Thời hoàng kim của Mỹ

 

Cách tốt nhất để diễn tả tầm quan trọng của những gì đang diễn ra là so sánh cân bằng quân sự ở Đông Á hiện tại với tình hình một vài năm trước:

Tới đầu thập kỷ 1990, cùng những dấu hiệu xuống dốc của hải quân và không quân Liên Xô ở các căn cứ quân sự vùng Viễn Đông Nga, Thái Bình Dương dường như trở thành cái ao của Mỹ. Quân đội Mỹ bất khả chiến bại và có thể hoạt động tự do ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ thời điểm nào. Với tàu, phi cơ và các đội quân trực chiến từ những căn cứ quân sự ở Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore cũng như ở Hawaii và các bang ven biển miền Tây (West Coast), Mỹ có thể bảo vệ đồng minh, đe dọa kẻ thù và tự do di chuyển lực lượng khắp phía tây Thái Bình Dương.

 

Các đơn vị hải quân và không quân Mỹ thường xuyên dàn trận và thực hiện các nhiệm vụ trinh sát bên ngoài (đôi khi là bên trong) hải phận và không phận Trung Quốc mà không sợ bị sách nhiễu, cản trở trong khi các vệ tinh Mỹ cũng bay lượn tự do và bí mật như vậy.

 

Không chỉ ở Đông Á, hải quân Mỹ còn chi phối tất cả các đại dương trên thế giới. Khi đã nhận lệnh, hải quân Mỹ có thể cản đường hoặc đánh chìm các tàu buôn tới Trung Quốc cho dù chúng chạy qua Thái Bình Dương hay Ấn Độ Dương.

 

Tiềm lực nguyên tử tầm xa của Mỹ và Trung Quốc cũng có sự chênh lệch rất lớn. Sau một số cam kết cắt giảm vũ khí của các cường quốc đầu thập kỷ 1990, Mỹ vẫn nắm trong tay hàng nghìn quả bom nguyên tử và đầu tên lửa có khả năng tấn công Trung Quốc trong khi Trung Quốc không có nhiều hơn 20 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân có thể bắn xa tới Mỹ, và chỉ 4 trong số đó sẵn sàng được đem ra sử dụng.

 

Do yếu thế, nơi duy nhất mà Trung Quốc có thể đương đầu với quân đội Mỹ là hải phận nước này. Tình huống này có thể xảy ra trong một cuộc xung đột về vấn đề Đài Loan. Hệ quả của xung đột này có thể đoán trước được, đó là chiến thắng của Mỹ và đồng minh. Nếu Bắc Kinh vẫn tỏ ra cứng đầu, Mỹ có thể sẽ cấm vận kinh tế và phong tỏa bờ biển Trung Quốc.

 

Nếu Bắc Kinh có dấu hiệu leo thang hạt nhân, Washington sẽ chủ động tấn công nhằm phá hủy toàn bộ vũ khí hạt nhân tầm xa vốn rất nghèo nàn và ít nhất một phần vũ khí tầm ngắn của Trung Quốc. Tóm lại, với xung đột ở mọi cấp độ - từ đụng độ trên biển tới chiến tranh hạt nhân liên châu lục, Mỹ đều ở thế thượng phong.

 

Quân đội Trung Quốc. Ảnh: AFP

 

Trung Quốc – đối thủ đáng gờm

 

Hiện nay, khả năng triển khai sức mạnh quân sự của Mỹ ở tây Thái Bình Dương đang bị đe dọa bởi sự chín muồi của chiến lược “chống xâm nhập” của Trung Quốc. Theo chiến lược này, Trung Quốc sẽ phát triển hệ thống quân sự chuyên biệt nhằm cản trở quân đội Mỹ hoạt động tự do gần bờ biển Trung Quốc.

 

Trong thế kỷ qua, Bắc Kinh đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc thực hiện mục tiêu này. Mỗi căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Á đều sẽ sớm nằm gọn trong tầm bắn của tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo Trung Quốc. Đồng thời, PLA cũng đang thiết lập mạng lưới vệ tinh, radar trên bờ biển và các thiết bị cảm ứng khác để định vị và theo dõi tàu của kẻ thù cách bờ biển Trung Quốc hàng trăm hải lý, sau đó sử dụng kết hợp thủy lôi, tên lửa hành trình tốc độ cao và tên lửa đạn đạo trên đất liền để đánh chìm hoặc vô hiệu hóa những tàu này.

 

Các hàng không mẫu hạm khổng lồ và đắt tiền có vị trí then chốt trong năng lực triển khai sức mạnh của Mỹ. Trong tương lai, nếu xảy ra khủng hoảng, Washington có thể không còn lựa chọn nào khác ngoài việc rút những hàng không mẫu hạm này xa khỏi bờ biển Trung Quốc. Việc này sẽ làm suy giảm năng lực phòng không của Mỹ dành cho các nước đồng minh và Mỹ cũng khó có thể tấn công quân đội Trung Quốc trên biển và đất liền.

 

Ngoài các phương pháp tấn công trực tiếp kể trên, PLA đang thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh và các kỹ thuật phá hoại mạng máy tính của đối thủ, khiến đối thủ trở nên “điếc” và “mù” trong suốt giai đoạn khởi đầu vô cùng quan trọng của một cuộc chiến.

 

Trên lĩnh vực phòng thủ, hải quân PLA (PLAN) đang khẩn trương tập hợp các tàu ngầm tấn công và phát triển hệ thống mìn dưới nước rất tinh vi. PLA cũng đang trong quá trình hoàn thiện một căn cứ tàu ngầm khổng lồ mới gần biển Đông và bắt đầu triển khai hệ thống cảnh báo dưới nước để kiểm soát các tàu ngầm Mỹ đang hoạt động ngoài khơi. Cuối cùng, Trung Quốc đang tăng cường đầu tư vào hệ thống phòng thủ bị động, radar hiện đại, tên lửa đất đối không, bao gồm một số loại có thể đương đầu với tên lửa hành trình và phi cơ do thám của phương Tây.

 

Sự phối hợp giữa lực lượng tấn công và phòng thủ hiện đại của Trung Quốc bắt đầu làm gia tăng nghi ngờ trong khu vực về năng lực bảo vệ đồng minh và dự phóng sức mạnh của Mỹ. Nguy hiểm hơn, trong vòng vài năm tới, nếu xảy ra khủng hoảng trầm trọng, các lãnh đạo Trung Quốc có khả năng phát động một cuộc chiến tranh hất cẳng Mỹ khỏi phía tây Thái Bình Dương và vô hiệu hóa các hành động trả đũa mà không cần dùng tới vũ khí hạt nhân hay xâm nhập lãnh thổ Mỹ.

 

Tất nhiên, Mỹ vẫn có thể tránh được một cuộc chiến hạt nhân với Trung Quốc. Nếu không sử dụng vũ khí hạt nhân, Mỹ có thể phản công Trung Quốc bằng cách “leo thang chiều ngang”, nghĩa là đánh vào những nơi mà Trung Quốc yếu thế. Theo đó, Mỹ sẽ tận dụng sức mạnh hải quân và không quân toàn cầu của mình để gạt Trung Quốc ra khỏi các vùng biển.

 

Mặc dù PLAN có thể thống trị lãnh hải Trung Quốc nhưng càng cách xa Trung Quốc, sức mạnh của PLAN càng giảm. Đây chính là cơ hội để quân đội Mỹ duy trì và phát huy tính ưu việt của mình. Nếu một ngày nào đó Mỹ muốn chặn nguồn cung dầu khí, khoáng sản và các hàng hóa khác tới Trung Quốc thông qua đường biển, Bắc Kinh khó có thể phản ứng ngay.

 

Ý thức sâu sắc về tình thế khó khăn này, các chiến lược gia Trung Quốc đang lao động cật lực trong các dự án nhằm giảm thiểu rủi ro như: kho dự trữ xăng dầu chiến lược; đường ống dẫn dầu xuyên lục địa tới Nga và Trung Á; khai thác tài nguyên biển gần bờ biển Trung Quốc; các tuyến đường giao thông mới xuyên Đông Nam Á cho phép dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông có thể được vận chuyển qua các eo biển hẹp ở Indonesia; xây dựng cảng và sân bay ở Myanmar và Pakistan để sử dụng trong tình huống khẩn cấp; xây dựng quan hệ chiến lược với Iran nhằm tạo chỗ đứng ở Vịnh Ba Tư; phát triển hàng không mẫu hạm và tàu ngầm nguyên tử tấn công tầm xa; chế tạo nhiều tàu ngầm diesel giúp PLAN bảo vệ các tuyến đường biển Trung Quốc và tấn công tàu địch.

Nếu được chế tạo đủ số lượng, các tên lửa đạn đạo đối hạm có thể sẽ sớm được dùng để đe dọa cả hàng không mẫu hạm và tàu buôn Mỹ. Bằng cách phối hợp tên lửa và tàu ngầm, Bắc Kinh có thể bảo vệ mình khỏi những đồng minh lớn của Mỹ như Nhật Bản, làm những nước này nhụt chí hoặc ngăn cản họ hợp tác với Mỹ.

 

Tàu chiến Trung Quốc trước khi lên đường tham gia chiến đấu chống hải tặc Somali. Ảnh: china.com

 

Tranh giành ảnh hưởng ở châu Á: Hành trình chông gai

 

Nếu Mỹ tỏ ra nhu nhược và không thực hiện được các cam kết của mình, ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á sẽ giảm sút nhanh chóng, để lại hậu quả lâu dài về an ninh, kinh tế và năng lực truyền bá tự do dân chủ. Khi ấy, các nước khác sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tự phát triển vũ khí hạt nhân hoặc bắt tay với Trung Quốc.

 

Muốn củng cố lòng tin của các đối tác chiến lược, Washington phải tìm cách ứng phó với hệ thống chống xâm nhập của Trung Quốc. Nếu không, Mỹ sẽ sớm đánh mất vị trí thống lĩnh quân sự ở Đông Á.

Cho đến nay, Lầu Năm Góc mới chỉ dàn xếp lại lực lượng ở một số căn cứ quân sự. Các bước tiếp theo sẽ tốn kém và gây tranh cãi hơn: củng cố các căn cứ quân sự chống tên lửa tấn công, mở rộng hệ thống phòng thủ tên lửa trên biển và đất liền, chế tạo thêm tàu ngầm và máy bay chiến đấu thế hệ mới. Về lâu dài, Mỹ cũng phải phát triển thêm nhiều loại vũ khí mới hiện đại hơn bằng cách đầu tư các chương trình nghiên cứu và phát triển ngay từ bây giờ.

 

Mặc dù liên tục bị Mỹ gây sức ép trong những năm qua, các lãnh đạo Trung Quốc vẫn không có ý định hãm phanh quá trình xây dựng lực lượng. Dường như trong hàng thập kỷ qua, Bắc Kinh luôn coi Mỹ vừa là đối tác kinh tế, vừa là đối thủ chiến lược. Nếu không muốn bị gạt khỏi châu Á, Mỹ cũng phải có quan điểm và cách ứng xử tương tự.

 

Tuy không chịu thừa nhận công khai nhưng một số nhà quan sát vẫn tin rằng Trung Quốc sẽ sớm thống trị châu Á. Thay vì cố gắng cản đường Trung Quốc hay bám trụ vào những nền dân chủ nhỏ yếu hơn như Đài Loan và Nhật Bản, Mỹ nên tìm kiếm thỏa hiệp với Bắc Kinh về hợp tác xử lý các vấn đề trong khu vực hoặc phân chia phạm vi ảnh hưởng như đề xuất của Trung Quốc vào năm 2008, theo đó Trung – Mỹ sẽ chia đôi Thái Bình Dương, lấy đảo Hawaii làm ranh giới.

 

Tuy nhiên, hành trình tìm kiếm ảnh hưởng ở châu Á của cả Mỹ và Trung Quốc đều có nhiều chông gai. Ngân sách liên bang của Mỹ đang phải chịu gánh nặng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, do đó việc tập trung đầu tư cho quân đội không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Ngoài ra, những khó khăn mà Mỹ gặp phải trước sự phát triển của Trung Quốc cả về kinh tế và sức mạnh quân sự còn chưa được nhiều người công nhận và để ý tới.

 

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ phải đối diện với thực tế là Mỹ và các nền dân chủ khác ở châu Á (bao gồm Ấn Độ) vẫn còn nguồn lực dồi dào để duy trì cân bằng quyền lực với Trung Quốc. Hơn nữa, việc Trung Quốc có giữ mãi được đà phát triển hay không vẫn còn là một nghi vấn. Hàng loạt những thách thức về dân số, xã hội và môi trường sẽ là lực cản lớn đối với tăng trưởng của Trung Quốc trong những thập kỷ tới, khiến nước này khó khăn hơn trong việc theo đuổi những tham vọng quân sự lớn lao như hiện nay

Thanh Trà - Huyền Trang (Lược dịch từ National Interest)(tuanvietnam.net) Kỳ sau: Trung Quốc không thể là “ngáo ộp” - Robert S. Ross

 

Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu