| Sau hơn 30 năm tiến hành cải cách, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu đáng nể về khoa học kỹ thuật quân sự. Thế nhưng, liệu có quá sớm khi người Mỹ lo lắng về một “ngáo ộp” mang tên Trung Quốc? | |||||||
Trung Quốc chưa đủ tầm là “ngáo ộp” - Robert S. Ross -
Sau hơn 30 năm tiến hành cải cách, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu đáng nể về khoa học kỹ thuật quân sự. Thế nhưng, liệu có quá sớm khi người Mỹ lo lắng về một “ngáo ộp” mang tên Trung Quốc?
Với nhiều người Mỹ, Trung Quốc hiện nay có thể giống với Liên Xô năm nào. Trung Quốc đang phát triển một thế hệ công nghệ quân sự mới với những loại vũ khí giúp nước này không những đủ sức dự phóng sức mạnh ở lục địa châu Á mà còn có thê rbước ra những vũ đài mới như trên biển và ngoài không gian. Những bước tiến vững chắc này đã khiến không ít người lo ngại về thách thức mà Trung Quốc đang đặt ra cho Mỹ.
Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn quá sớm để khẳng định Trung Quốc sẽ là mối đe dọa đối với lợi ích an ninh trọng yếu của Mỹ. Mặc dù đã đạt nhiều tiến bộ về khoa học quân sự, nhưng Trung Quốc vẫn chưa phát triển được những công nghệ cần thiết để trở đối trọng của Mỹ trên sân chơi quân sự. Do đó, việc cảnh báo hay đánh giá quá mức về khả năng của Trung Quốc hiện thời và ảnh hưởng của công cuộc hiện đại hóa hệ thống quốc phòng Trung Quốc đối với lợi ích an ninh của Mỹ ở Đông Á là không cần thiết.
Những bước tiến mang tính chiến lược của chính quyền Trung Quốc chưa thể khiến Washington phải thay đổi những điểm quan trọng trong chính sách an ninh khu vực và quốc phòng, hay chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc. Ngược lại, niềm tin hiện tại vào năng lực của bản thân cho phép người Mỹ một mặt có thể cùng “chia ngọt sẻ bùi” với Trung Quốc trên cả hai lĩnh vực quân sự và ngoại giao; mặt khác vẫn củng cố được lợi ích an ninh của Mỹ ở khu vực này.
Trong bao nhiêu năm qua, người Mỹ đã xây dựng và củng cố được mối quan hệ hợp tác chiến lược với các nước ven biển Đông Á và duy trì thế cân bằng quyền lực trong và sau Chiến tranh Lạnh nhờ ưu thế áp đảo về kỹ thuật hàng hải. Khả năng dự phóng sức mạnh của Mỹ đã trấn an các đối tác chiến lược của nước này. Nó củng cố niềm tin rằng họ hoàn toàn có thể dựa vào Mỹ để ngăn ngừa cuộc tấn công của bất kỳ “ông lớn” nào; và nếu chiến tranh xảy ra, họ sẽ chỉ phải chịu thiệt hại ở mức thấp nhất. Vào thời điểm hiện nay, “tờ giấy bảo đảm an ninh” này có sức mạnh và đáng tin hơn lúc nào hết.
Ngược lại, với địa chiến lược, cộng thêm nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá dồi dào, Đông Á nghiễm nhiên có tên trong những lợi ích an ninh trọng yếu của Mỹ. Không ai có thể phủ nhận Đông Á với vai trò là trợ thủ đắc lực, giúp Mỹ thể hiện sức mạnh quân sự trong cuộc đua không tên với “gã khổng lồ” Trung Hoa mới nổi và duy trì vị thế có lợi trên cán cân quyền lực.
Liên minh Mỹ - Nhật và quan hệ đối tác chiến lược hết sức gần gũi với Singapore mang lại những điều kiện thuận lợi về hải quân, không quân, cho phép chính quyền Washington thỏa sức triển khai sức mạnh của mình tại khu vực. Ngoài ra, mối bang giao chiến lược với Malaysia, Indonesia và Philippines cũng tạo những điều kiện hết sức quan trọng, tăng cường sức mạnh cho Mỹ trong suốt giai đoạn căng thẳng leo thang.
Do đó, điểm tối quan trọng khi đánh giá mức độ hiện đại hóa của quân đội Trung Quốc là liệu Trung Quốc có thể thách thức khả năng “đỡ đầu” của Mỹ và năng lực chiến đấu của nước này có đủ để các nước Đông Á phải đặt dấu hỏi về giá trị của cái bắt tay chiến lược với Mỹ.
Mặc dù đúng là khả năng của Trung Quốc ngày càng được củng cố, nhưng họ ”chưa có cửa” chiếm thế thượng phong hiện tại của Mỹ. An ninh biển của Mỹ không chỉ dựa vào những đội tàu hay mẫu hạm được trang bị tối tân trên mặt nước, mà còn ở đội tàu ngầm, tạo nền hoạt động “êm ru” bảo đảm cho bất kỳ cuộc tấn công trả đũa nào, cũng như hệ thống C4ISR đảm bảo cho Mỹ có năng lực chỉ huy, điều khiển, liên lạc, máy tính, tình báo, trinh sát và do thám vượt trội. Ở từng yếu tố, Trung Quốc còn phải rất vất vả mới có thể theo kịp Mỹ.
Khả năng có nhưng không mạnh
Hiện nay, Trung Quốc đang mua và có nhiều chính sách củng cố cơ sở hạ tầng và trang thiết bị trên biển. Thế nhưng, đáng tiếc, những tiến bộ mà hải quân Trung Quốc đạt được không gây ra tác động nào đáng kể đến an ninh trên biển của Mỹ.
Từ đầu và đặc biệt là đến cuối những năm 1990, Bắc Kinh đã tập trung chương trình mua khí tài biển vào những loại tàu ngầm hiện đại như tàu ngầm hạng kilo, máy bay Su-27, Su-30 với hơn 1500 đầu đạn tên lửa đối không. Hiệu quả của nỗ lực này là khả năng nhắm mục tiêu vào các máy bay Mỹ được củng cố và khả năng ngăn chặn tàu và máy bay Mỹ vào vùng biển của Trung Quốc được cải thiện.
Phải thừa nhận một điều, khả năng dự phóng sức mạnh của Mỹ ở Đông Á hiện nay yếu hơn nhiều so với bất kỳ giai đoạn nào kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ nhận thức rất rõ những thành tựu mà Trung Quốc đạt được trong thời gian gần đây và đã có chính sách đối phó bằng nhiều biện pháp khác nhau để giảm thiểu khả năng bị tấn công của các tàu chiến Mỹ. Với nguồn ngân sách lớn hơn, công nghệ hiện đại hơn và khả năng do thám, theo dõi các tàu lạ của Mỹ liên tục được cải thiện.
Trong một nỗ lực khác nhằm chống lại thế thượng phong trên biển của Mỹ, từ giữa những năm 1980, Trung Quốc đã lên kế hoạch xây dựng những đội hàng không mẫu hạm và chẳng bao lâu nữa, kế hoạch này sẽ trở thành hiện thực.
Tuy nhiên, trái ngược với những đánh giá bi quan nhất của một số nhà quan sát Mỹ, hàng không mẫu hạm của Trung Quốc sẽ không thể củng cố năng lực hải quân của Trung Quốc. Một hoặc thậm chí hai mẫu hạm của Trung Quốc sẽ không thể giúp Trung Quốc xuất hiện liên tục tại những vùng biển xa. Trung Quốc cần một con số lớn hơn nếu muốn tăng cường năng lực chiến đấu của mình.
Ngoài ra, việc tự xây dựng những mẫu hạm tiên tiến của riêng mình thay vì phụ thuộc vào nguồn cung từ Nga cũng rất quan trọng. Trung Quốc cũng sẽ phải phát triển hệ thống C4ISR để bảo vệ các mẫu hạm của mình và nhắm mục tiêu chính xác đến các đội tàu của Mỹ. Đây là một quá trình lâu dài, không thể diễn ra một sớm một chiều.
Một điểm khác cần phải tính đến là hải quân Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những yêu cầu đầy thách thức về tổ chức khi đưa một mẫu hạm hoàn chỉnh vào hoạt động. Những yêu cầu quản lý hiệu quả đối với mẫu hạm và các khí tài trên đó quả thật không phải là vấn đề đơn giản. Vì lẽ đó, mối đe dọa về những mẫu hạm của Trung Quốc sẽ là sự thật nhưng chỉ diễn ra sau vài chục năm nữa.
Một trong những mối lo ngại lớn nhất của các nhà quan sát là việc Trung Quốc nghiên cứu và phát triển tên lửa đạn đạo đối hạm di động với tầm bắn 1500km. Nếu những tên lửa đạn đạo phóng từ đất liền loại này có thể nhắm mục tiêu và sau đó xâm nhập vào hàng phòng thủ của chiến hạm Mỹ, nó sẽ làm suy yếu đáng kể khả năng triển khai sức mạnh của Mỹ trên biển. Là vũ khí phản công, ASBM của Trung Quốc có khả năng ngăn chặn hoạt động hải quân của Mỹ ở phần lớn khu vực phía tây Thái Bình Dương và biển Đông, làm suy yếu khả năng bảo vệ các đối tác chiến lược của Mỹ tại các khu vực này.
Tuy nhiên, sẽ là thiếu khôn ngoan nếu coi nhẹ những trở ngại mà Trung Quốc phải đối mặt khi chế tạo tên lửa ASBM và gán cho chúng những tác động có ý nghĩa chiến lược. Việc phát hiện một mục tiêu nhỏ, chẳng hạn như mẫu hạm trên đại dương rộng lớn không phải là việc đơn giản. Sau tìm kiếm là việc theo dõi mẫu hạm đang di chuyển theo thời gian thực cũng là điều tối quan trọng để xác định đúng mục tiêu và là một trở ngại công nghệ không nhỏ đối với Trung Quốc.
Trở ngại cuối cùng và cũng là vấn đề hóc búa nhất là việc thâm nhập vào hệ thống phòng thủ của mẫu hạm. Các tàu chiến của Mỹ luôn được trang bị những hệ thống phòng thủ tối tân, đủ sức vô hiệu hóa các tên lửa ASBM. Những khó khăn này đã làm dấy lên quan ngại và tranh cãi giữa các chuyên gia Trung Quốc về tính khả thi của dự án
Tất nhiên, không phải tất cả những trở ngại công nghệ này đều không thể vượt qua được, và Trung Quốc đang dành rất nhiều nguồn lực để xây dựng một hệ thống ASBM mạnh. Rất có thể, cuối cùng rồi quân đội Trung Quốc cũng sẽ phát triển được khả năng xác định mục tiêu và do thám ASBM cần thiết để làm suy yếu tiềm lực của Mỹ.
Nhưng để được như vậy, trước tiên Trung Quốc phải tiến hành thành công cuộc thử nghiệm ASBM chính thức đầu tiên. Sau thử nghiệm đầu tiên đó, Trung Quốc sẽ cần thêm một giai đoạn nghiên cứu và phát triển để ASBM phát huy hiệu quả trong điều kiện thực tế.
Và ngay cả nếu Trung Quốc có thể xây dựng một hệ thống ASBM có thể hoạt động được, nước này vẫn sẽ vấp phải rất nhiều khó khăn để đạt được mức độ hiệu quả cần thiết khi chiến sự diễn ra. Cũng cần nói thêm một điều, năng lực chiến đấu của hải quân Mỹ không chỉ giới hạn ở lực lượng trên mặt nước, và sẽ thật sai lầm khi đánh giá thấp số lượng các hệ thống mà Mỹ có sẵn hiện nay. Các tàu ngầm tên lửa hạt nhân của Mỹ được liên kết với 154 tên lửa hành trình Tomahawk đặt tại bờ tây Thái Bình Dương có thể nhắm mục tiêu vào các tàu thuyền của Trung Quốc và thâm nhập vào vùng duyên hải của nước này với khả năng bị phát hiện rất thấp.
Hệ thống tên lửa hành trình này đã giúp Mỹ có được khả năng trả đũa và phòng thủ tuyệt vời. Nếu Trung Quốc cải thiện khả năng sử dụng ASBM, Mỹ cũng có thể triển khai tấn công trả đũa và sử dụng các vũ khí tấn công ngầm, từ đó loại trừ bất kỳ khả năng quân sự mới nào của Trung Quốc.
Đông Á: Cờ vẫn trong tay Mỹ
Mỹ nắm giữ lợi thế quân sự ở khu vực Thái Bình Dương và biển Đông. Đồng thời, Mỹ cũng có khả năng bảo vệ các quốc gia ven biển và làm thoái lui bất kỳ ý đồ nào không có lợi cho các nước này. Khả năng làm thối chí các thế lực thù địch và tham chiến chính là nhân tố quyết định giúp Mỹ phát triển và duy trì các mối quan hệ đối tác chiến lược, có ý nghĩa vô cùng thiết yếu đối với những nỗ lực duy trì vị thế có lợi trên cán cân quyền lực ở khu vực của Washington.
Trong vài năm gần đây, trong khi Trung Quốc tiến hành hiện đại hoá lực lượng quân đội và trở thành một thế lực kinh tế, thì Mỹ cũng củng cố vững chắc các mối quan hệ chiến lược của mình. Nhật Bản, hay các nước Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines không ngừng cải thiện quan hệ hợp tác trong lĩnh vực hải quân với Mỹ. Với chỗ dựa vững chắc, các nước này tỏ ra khá rắn mặt trước những đòi hỏi của Trung Quốc về chủ quyền trên biển.
Phải thừa nhận một điều, chương trình hiện đại hoá quân sự của Bắc Kinh mang lại kết quả rất khả quan. Sau 30 năm tiến hành cải cách, giờ đây Trung Quốc có thể sản xuất được những loại vũ khí rất hiện đại. Mỹ không thể xem nhẹ Trung Quốc với tư cách một đối thủ cạnh tranh đáng gờm, nhưng Trung Quốc cũng không dám tạo mối đe dọa đối với vị trí chiến lược của Mỹ ở khu vực Đông Á. Xây dựng chính sách gây hại đến quan hệ hợp tác Mỹ - Trung chỉ vì lợi ích kinh tế hay an ninh trước mắt sẽ là một nước cờ thiếu khôn ngoan.
Mặc dù Trung Quốc có những bước tiến vô cùng ấn tượng, song Mỹ vẫn duy trì được lợi thế quân sự, khả năng ngăn cản và chiến đấu lợi hại ở vùng biển Đông Á. Tuy nhiên, việc Mỹ không thể xây dựng chính sách dựa trên phân tích thổi phồng quá mức về mối hiểm hoạ từ Trung Quốc không có nghĩa là Mỹ được phép tự mãn coi nhẹ, làm phương hại đến an ninh quốc gia. Washington phải duy trì khả năng của mình để củng cố quan hệ hợp tác chiến lược với các quốc gia ven biển là láng giềng của Trung Quốc, đồng thời bảo vệ vị thế cân bằng quân sự có lợi cho mình.
Dè chừng trước tiềm năng chiến lược của Bắc Kinh, chính sách quốc phòng của Mỹ cần tiếp tục chú trọng đến việc mở rộng hơn nữa tầm ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực tây Thái Bình Dương. Những biến cố bất ngờ chớp nhoáng không thể không khiến người ta nghĩ đến một cuộc chiến giữa các cường quốc trong tương lai, vì thế việc chuẩn bị chu đáo về mọi mặt là không thừa.
Nếu Mỹ vẫn chú trọng củng cố những thế mạnh đã có trong lĩnh vực hải quân như công nghệ thông tin, tàu ngầm, hàng không mẫu hạm, thì quốc gia này vẫn có thể giữ chắc ghế của mình trước một "ngáo ộp" Trung Quốc.
Thanh Trà - Huyền Trang (Lược dịch từ National Interest)(tuanvietnam.net) |
Đông Á: Cờ vẫn trong tay Mỹ
Sau hơn 30 năm tiến hành cải cách, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu đáng nể về khoa học kỹ thuật quân sự. Thế nhưng,


