Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Kinh tế tư nhân theo cách làm của Việt Nam

19/09/2009 17 phút đọc Người dịch: La Nguyễn . Biên tập: Phương Thuận
Từ Sài Gòn đến Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn không có khoảng cách trong không gian, chỉ là chuyến du hành trong thời gian,
Kinh tế tư nhân theo cách làm của Việt Nam
Từ Sài Gòn đến Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn không có khoảng cách trong không gian, chỉ là chuyến du hành trong thời gian, từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam hay theo cách gọi của người Việt Nam là cuộc chiến chống Mỹ, đến một đất nước do những người cộng sản nắm quyền nhưng đậm chất thị trường, 34 năm sau đã làm du khách ngạc nhiên.
 
Daniel D. Veniez, Cố vấn Nguyên Thủ tướng Brian Mulroney Canada, Chủ tịch Tập đoàn DDV Enterprises Ltd. Canada, doanh nhân người Canada kể lại những ấn tượng về đất nước này không chỉ qua những gì ông thấy mà còn qua đối tác của mình là ông Nguyễn Bắc, một cựu thuyền nhân đã trở về quê hương với danh nghĩa một doanh nhân Canada.


Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên tiếp doanh nhân Canada Daniel D. Veniez

Bảo tàng kháng chiến chống Mỹ nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Sài Gòn), là nơi hấp dẫn du khách, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Bảo tàng giới thiệu những tổn thất về người trong chiến tranh và nỗi kinh hoàng không thể hình dung được trong cuộc chiến tranh mà chúng ta gọi là chiến tranh Việt Nam. Những hình ảnh về tổn thất khủng khiếp đối với thường dân gây xúc động mạnh mẽ nhất – nhìn vào chúng, ta thấy nỗi đau của sự phân ly.

Chúng ta được gợi nhớ là khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, đã có 58.000 lính Mỹ bị chết, 4 triệu người Việt Nam bị giết và 98% cơ sở hạ tầng của Việt Nam bị tàn phá. 

34 năm sau ngày giải phóng Sài Gòn, Việt Nam vẫn còn bị ám ảnh với những hình ảnh về cuộc chiến tàn khốc đã đi qua một thế hệ. Khi mà những hình ảnh đó đã phai dần trong ý thức của hầu hết những người Bắc Mỹ, những cảm xúc về dấu vết chiến tranh vẫn còn ẩn hiện ở Việt Nam ngày nay. Những vết tích chiến tranh vẫn còn, nhưng theo thời gian cũng sẽ phai đi.

Đối với đất nước này và dân số trẻ trung của nó, chiến tranh hầu như chỉ còn trong sách lịch sử và trong truyền thuyết của gia đình. Không có sự hận thù nào về Mỹ như tôi tưởng sẽ cảm nhận thấy tại đây trong lần đầu tiên tôi đến đất nước này vào đầu năm nay. Trái ngược lại nữa là khác. Việc bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam vào ngày 11/07/1995 là khởi đầu cho một tinh thần mới lạc quan và mở ra nhiều cơ hội tại Việt Nam.

Quyết định đó là điểm cao nhất của nhiều năm trong hoạt động ngoại giao, đã đặt chiến tranh vào quá khứ của một thế hệ. Ngày nay, một cuộc cách mạng khác đang âm ỷ trong trái tim của Đông Nam Á. Việt Nam đã trở thành một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Đây là cuộc cách mạng kinh tế thầm lặng.


Nguyễn Bắc ở Malaysia 

Những nhà lãnh đạo Việt Nam đã học rất nhiều bài học đáng giá về những sai lầm của người hàng xóm phương Bắc và rất quyết tâm trong việc không lặp lại những sai lầm đó. Đối tác của tôi, Nguyễn Bắc, là Chủ tịch của Công ty cổ phần Đại Sơn tại Hà Nội. Công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, trồng cao su, khách sạn, cảng, vải sợi, đồ nội thất, dạy nghề. Câu chuyện về Bắc là một trong những câu chuyện ngày càng thấy nhiều hơn của người Việt Nam.

Vào đầu thập niên 80, ông là một phần trong làn sóng thuyền nhân Việt Nam vào thập niên 70 và 80 đi tìm kiếm cuộc sống tốt hơn. Bắc sử dụng toàn bộ tiết kiệm của mình trả tiền cho chủ thuyền để rời đất nước. Ông đã ra đi trên một con thuyền đông đúc và đầy bệnh tật lênh đênh trên biển trong một tuần - nhiều người đã chết trong chuyến đi - và cuối cùng đã cập bến tại trại tị nạn thuộc Malaysia. Tất cả những thuyền nhân được đưa vào những trại tỵ nạn của Liên hợp quốc ở Hongkong, Thailand, Indonesia và Philippines.

Cuối cùng, ông đã đến Canada và được bố trí ở North Bay, Ontario, tại đó ông làm công nhân dọn dẹp nhà vệ sinh vào buổi tối khuya. Và đi học tiếng Anh vào buổi sáng. Trong vòng 5 năm, ông đã đi đến Toronto, tại đây ông bắt đầu kinh doanh xuất - nhập khẩu và trở thành công dân Canada. Sau chuyến viếng thăm lịch sử của Tổng thống Bill Clinton đến Hà Nội, Bắc đã quyết định trở về để tham gia xây dựng lại đất nước.

Ngày nay, ở tuổi 50, ông là chủ sở hữu toàn bộ Công ty Đại Sơn, hiện đang có khoảng 3.000 nhân viên làm việc tại Việt Nam. Câu chuyện của ông, thật ấn tượng, cũng không phải là duy nhất. Những thuyền nhân đã định cư tại Châu Âu và Bắc Mỹ được trang bị bằng tri thức và kinh nghiệm đã trở về Việt Nam với số lượng đông hơn để thực hiện hoài bão như Bắc đã làm. Họ nắm bắt được cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên không phải ý định này mà góp phần xây dựng lại đất nước mình mới là mục tiêu hàng đầu. Mặc dù tình hình tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chậm lại, Việt Nam là một con hổ Châu Á. Đây không còn là Việt Nam của thế hệ trước.

Đó là một Việt Nam mới, trẻ, năng động và đầy hứa hẹn. Một phong cách làm việc rất kỷ luật và cạnh tranh đang lan tỏa khắp nơi. Bạn có thể thấy nhiều cánh đồng ruộng lúa mất đi và thay thế vào đó là tầm nhìn của những nhà tài phiệt mới trong kinh doanh, như Nguyễn Bắc. Hội nhập kinh tế nhưng không mất tự chủ - điều không được nghe đến trong 1 thập niên trước - đang phát triển, được khuyến khích và đang trở thành hiện thực hơn bao giờ hết ở Việt Nam ngày nay.

Thịnh vượng dựa trên tài khéo léo, giáo dục và sự cần cù đã trở thành ước vọng bao quát của dân tộc này. Nó cũng trở thành tiêu chí cho các chính sách của nhà nước. Phía sau nó là khát vọng mãnh liệt của mọi tầng lớp của xã hội Việt Nam để nâng cao chất lượng cuộc sống và tiêu chuẩn sống. Các nhà lãnh đạo chính trị có quyết tâm cao độ và đầy bản lĩnh để đưa đất nước ra khỏi nghèo đói.

Dữ liệu của Ngân hàng Thế Giới đã nêu rõ sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam trong thập niên vừa qua. Giá trị thật của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 7,3%/năm từ năm 1995 - 2005 và thu nhập bình quân đầu người tăng 6,2%/năm. Nền kinh tế đã bị ảnh hưởng do đại dịch SARS, cúm gà, thời tiết khắc nghiệt, giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng cao, lạm phát và những vụ kiện chống phá giá…, và Việt Nam đã chứng minh được sự kiên cường cao độ trước những tác động đó.

Nếu tính bằng USD thì thu nhập bình quân đầu người tăng từ 260 USD vào năm 1995 lên mức 835 USD vào năm 2007. Với mức độ tăng trưởng này, Việt Nam có thể trở thành thành viên của các nước có mức thu nhập trung bình khi thu nhập bình quân đầu người hơn mức 1.000 USD vào năm 2010. Với diện tích tương đương với bang New Mexico của nước Mỹ, Việt Nam là nước đang phát triển có mật độ dân số cao, trong 30 năm qua đã hồi phục từ đổ nát của chiến tranh, mất sự viện trợ tài chính từ khối Xô Viết, và sự cứng nhắc của nền kinh tế tập trung.

Từ năm 2001, Chính phủ Việt Nam đã tăng cường những chính sách về tự do hóa kinh tế. Là thành viên của Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Song phương Việt-Mỹ vào tháng 12/2001 đã dẫn đến sự thay đổi rất nhanh trong thương mại và kinh tế.  Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng 900% từ năm 2001 đến năm 2007. Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 01/2007, thâm nhập ngày càng sâu thị trường toàn cầu. Nó cũng giúp củng cố và tăng cường tiến trình cải tổ nền kinh tế nội địa.

Trao đổi song phương về hàng hóa giữa Việt Nam và Canada đã tăng trưởng hơn 5 lần so với năm 1997. Thương mại song phương Việt Nam - Canada đạt đỉnh cao nhất là 1 tỷ USD vào năm 2007, tăng 21,2% so với năm 2006. Hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam là 758,4 triệu USD, trong khi xuất khẩu đạt 288,7 triệu USD (tăng 36,1% từ năm 2006). Theo Bộ Ngoại giao và Thương mại Quốc tế thì đầu tư của Canada vào Việt Nam đạt 4,2 tỷ USD vào giữa năm 2008, điều này đã làm Canada trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 5 tại Việt Nam. 

Trước đây là trụ cột của nền kinh tế, nông nghiệp đã giảm tỷ trọng từ 25% vào năm 2000 xuống còn 20% vào năm 2008. Nạn đói nghiêm trọng đã giảm rất đáng kể và hiện nay đang thấp hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường đang tạo ra nhiều việc làm để đáp ứng được sự thách thức về lực lượng lao động tăng hơn 1,5 triệu người mỗi năm. Từ năm 1995 đến 2005, tỷ trọng của hoạt động công nghiệp tăng từ 29% lên đến 41%. Vai trò của của kinh tế quốc doanh trong hoạt động sản xuất đã giảm đáng kể - từ 52% năm 1995 còn dưới 35% vào năm 2006.

Nhưng đây là kết quả của sự nổi lên của nền kinh tế tư nhân đầy ấn tượng hơn là việc dỡ bỏ của khu vực nhà nước, hiện đang được tái cấu trúc và được tập trung vào những hoạt động mang tính "chiến lược" hơn như là cơ sở hạ tầng trong viễn thông. Chính quyền trung ương cũng đã học được những sai lầm trong chính sách trong thời gian qua. Quan điểm của chính phủ về tài chính và tiền tệ rất khôn ngoan đã kiềm chế được lạm phát.


Ông Nguyễn Bắc và mẹ tại quê ở Tứ Kỳ, Hải Dương (Ảnh chụp năm 2009)

Việt Nam đã sử dụng việc sản xuất để xuất khẩu thay cho nền kinh tế khép kín. Bị tác động do suy thoái toàn cầu và nhu cầu suy giảm của các nước phương Tây, Việt Nam bắt đầu chương trình kích cầu đầy năng động và chỉ trong năm nay đã tăng 23% (gần 100 ngàn tỷ đồng hay là 6 tỷ USD, khoảng 6% của GDP). Với một nền kinh tế phải tạo việc làm cho số lượng lớn người tham gia vào lực lượng lao động mỗi năm, sự tăng trưởng chậm không phải là chính sách lựa chọn khả thi.

Dân số trẻ (độ tuổi trung bình hiện nay là 27 tuổi) với hơn 70% được sinh ra sau  chiến thắng năm 1975. Điều này là rất cần thiết cho Chính phủ mở cửa hơn và tự do hóa hơn. Chính phủ vừa mới tuyên bố chương trình đầy tham vọng về dạy nghề cho nông dân. Đối với Nguyễn Bắc, dạy nghề và giáo dục là nguyên tắc chủ yếu của chiến lược kinh doanh của mình. Ông đã đầu tư xây dựng một trường dạy nghề rất hiện đại, có tên là VCS, nằm tại Chí Linh, phía bắc của Hà Nội.

Ông ước tính sẽ có 1.500 học sinh vào năm 2010, và kế hoạch của ông là đạt được công suất dự kiến vào năm 2015, để phục vụ 3.000 học sinh cho nhiều chương trình học bao gồm công nghệ thông tin, kỹ sư, tài chính và quản trị doanh nghiệp. Mục tiêu là để có thể xuất khẩu học sinh tốt nghiệp sang lao động tại các thị trường như Bắc Mỹ, châu Âu và Trung Đông. Bắc tính rằng, cũng giống như đối với ông, là thời gian làm việc tại nước ngoài sẽ giúp học sinh mở rộng hiểu biết và đi sâu vào kỹ năng. Điều này sẽ có lợi cho Việt Nam khi họ trở về sau một thời gian làm việc tại nước ngoài.

Chính phủ thực hiện một cách chủ động và hệ thống trong việc tháo gỡ kiểm soát trong hoạt động kinh tế, và đó là điều củng cố môi trường đầu tư chung. Và điều đó, đến lượt nó, đã sinh ra một tầng lớp doanh nghiệp mới, làm cho tầng lớp trung lưu thêm đông đảo và đẩy nhanh việc cải tổ. Có một mạng lưới buôn bán rộng lớn, phủ khắp và đầy nghị lực trong đất nước 86 triệu dân này, mà ở đó chủ nghĩa tiêu thụ - và giấc mơ về nó - phát triển mạnh.

Ở khắp nơi bạn đều tìm thấy, theo nghĩa đen, là hàng vạn dặm đường có những hàng quán bán tất cả mọi thứ có thể tưởng tượng được - từ dụng cụ điện đến đồ đồng thau, và tất cả những gì giữa 2 ranh giới này. Những hàng quán, cửa hàng và chợ trải dài qua từng thành phố, thị trấn và làng mạc, từ biên giới Trung Quốc tại miền Bắc cho đến những thị trấn resort tại miền Nam. Tất cả tạo thành nhu cầu cần thiết cho cuộc sống.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, những cửa hàng hàng đầu giới thiệu những nhãn hiệu thời trang cao cấp. Bạn như đang đi dọc theo Rodeo Drive ở Beverly Hills. Điều có ý nghĩa cho mạng lưới dịch vụ và hàng hóa đa dạng và lúc nào cũng sẵn có là hệ thống cung cấp đầy phức tạp hiện diện trên khắp đất nước. Điều này không thể tìm thấy tại Trung Quốc trong thời gian mới gần đây, hay cả Nga ở thời điểm bây giờ. 

Có một cuộc tranh luận gay gắt về việc có phải tự do hóa kinh tế là rất cần thiết hay không? Mà vấn đề là làm sao đạt được tự do, để thu hút người nước ngoài đầu tư và làm cho những doanh nghiệp trong nước trở thành những đối tác tin cậy. Khi mà quá trình chuyển đổi tăng tốc và đạt được xung lượng, những tác động xấu của sự tăng trưởng sẽ trở nên rõ ràng. Sự phức tạp và khéo léo phải cần đến để đạt được nhiều mục tiêu trong khuôn khổ hài hòa là điều thách đố hiển nhiên cho hoạch định chính sách.

Bởi vì Việt Nam là nền kinh tế đang nổi, tham nhũng không phải là tràn lan, nhưng nó hiện diện trong cuộc sống. Chính phủ đang đẩy mạnh loại trừ nó bằng cách tạo nên sự kiểm soát từ trung ương minh bạch và phân quyền hơn. Kỹ năng quản lý và kinh nghiệm hiện đang bị thiếu. Hệ thống pháp lý không theo kịp với sự phát triển kinh tế. Cải cách toàn diện là cần thiết để xây dựng cơ sở cho một hệ thống luật hiện đại.

Những tiêu chuẩn quốc tế then chốt như là sức khỏe, công nghệ thông tin, giáo dục, vận tải và xây dựng phải được áp dụng một cách rộng rãi, nhưng hệ thống quản lý và điều lệ để thực thi thì rất yếu kếm. Tất cả những thành tố này là yếu tố cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững. Những nhà lãnh đạo Việt Nam nhận biết được những yếu kém nội tại này và xác định sẽ khắc phục chúng. Họ cũng thừa nhận rằng phải cần thời gian để chỉnh sửa.

Việt Nam hiện nay là hình ảnh của Trung Quốc 15 năm trước. Sự khác biệt cơ bản là Việt Nam có tầng lớp doanh nhân thành đạt và văn hóa doanh nghiệp đã bám rễ. Điều đó sẽ làm sự chuyển đổi gắn liền toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu nhanh hơn, êm ái hơn và lâu bền hơn. Nó cũng sẽ đóng góp vào sự ổn định chính trị ở một góc chiến lược của địa cầu. Những gì Việt Nam cần nhất hiện nay là cho các nước phương Tây thấy rõ các lợi ích hơn là nghi ngờ. Đất nước đang thay đổi một cách mạnh mẽ và nhanh chóng, và nhà lãnh đạo muốn chứng tỏ với thế giới là Việt Nam muốn mở cửa cho kinh doanh.

Chính sách thương mại mới đây của chính phủ Canada của Thủ tướng Harper là kết quả của những thỏa thuận mới với Jordan, Peru và Columbia. Vì nhiều lý do khác nhau, người Việt Nam khâm phục và tôn trọng Canada. Rõ ràng, khao khát mạnh mẽ của họ là xây dựng được mối quan hệ hợp tác kinh tế và gần gũi với Canada.

Đối với Canada, điều này thể hiện một chuỗi cơ hội đầu tư hiếm có mà Canada nên nắm bắt. Việt Nam cần đối tác cho những dự án hạ tầng lớn như nhà máy thủy điện, cảng, năng lượng và viễn thông. Trong tất cả những lĩnh vực này, Việt Nam đang tìm kiếm những đối tác tin cậy, người có thể cung cấp năng lực điều hành và khả năng tài chính. Ottawa nên chuyển hướng chú ý về những mối quan hệ chiến lược quan trọng tại châu Á. Đứng đầu danh sách nên là Việt Nam. 

Người dịch: La Nguyễn. Biên tập: Phương Thuận

(quehuongonline)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu