Sáng 2 tháng 2 năm 2012, đang dự lễ khai mạc Liên hoan thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ nhất tại Quảng Ninh, tôi bàng hoàng khi nhận được tin, nữ nhà thơ lớn của Ba Lan và thế giới, người được giải thưởng Nobel văn học năm 1996, người bạn chân tình của Việt Nam, đã qua đời ngày 1 tháng 2 năm 2012, thọ 89 tuổi. Ông Michal, thư kí của nữ nhà thơ cho biết, bà ra đi trong giấc ngủ an bình tại nhà mình. Trong những ngày ốm nặng bà nằm tại nhà riêng, bà đề nghị đừng ai đến thăm bà, để cho trong tâm thức của mọi người bà luôn luôn là một người khỏe mạnh.

Lễ tang nữ nhà thơ Wislawa Szymborska, công dân danh dự của thành phố Krakow, đã được cử hành trọng thể ngày 9 tháng 2 năm 2012, theo thế tục, với sự tham dự của các vị lãnh đạo cao nhất của Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Cộng hòa Ba Lan: Tổng thống Bronislaw Komorowski, Chủ tịch thượng viện, Chủ tịch Hạ viện, Thủ tướng, nhiều vị bộ trưởng, quan khách Ba Lan, các đại diện Ngoại giao đoàn, các nhà văn, nhà thơ, dịch giả, nghệ sĩ, bạn bè và những người mến mộ nữ nhà thơ. Có trên tám ngàn người đã tham dự lễ tang vĩnh biệt nữ nhà thơ, diễn ra trong giá lạnh, tuyết rơi trắng trời. Theo nguyện vọng của bà, đúng 12 giờ trưa, bình đựng hài cốt được đưa từ nhà tang lễ tới khu mộ gia đình bà. Cùng lúc, trên tháp chuông nhà thờ Mariacki ở trung tâm cố đô Krakow, nhà thờ cổ kính bậc nhất châu Âu, thay vì tiếng kèn hiệu vào giờ này hàng ngày, ngân vang giai điệu phổ thơ của bà - bài “Không có gì hai lần”. Ca khúc phổ thơ này do Lucja Prus, nữ ca sĩ nổi tiếng Ba Lan từ những năm sáu mươi của thế kỉ trước, thể hiện. Trong bài phát biểu vĩnh biệt nữ nhà thơ, tổng thống Ba Lan, ngài Bronislaw Komorowski nói: “Vĩnh biệt nữ nhà thơ, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, tài năng lớn này sẽ ở lại với chúng ta, khi trong những vần thơ của mình bà để lại cho chúng ta kỹ năng nhận biết chung quanh những mảnh nhỏ bình thường của cái đẹp và niềm vui của thế giới…”


Buổi tối cùng ngày, tại Viện bảo tàng Mỹ thuật thành phố Krakow đã diễn ra Đêm văn học tưởng niệm nữ nhà thơ Wislawa Szymborska. Đài truyền hình Ba Lan TVP tường thuật tại chỗ đêm văn học trang trọng này. Theo di chúc của bà, Quỹ di sản Wislawa Szymborska sẽ được thành lập. Quy chế của quỹ này đã được soạn thảo rất chi tiết với sự chứng giám của bà khi bà còn sống. Nữ nhà thơ dự định trong năm nay sẽ cho công bố tập thơ mới của bà, gồm những bài thơ bà sáng tác trong mấy năm vừa qua. Bà nói đùa, nhưng nghiêm túc rằng, tập thơ mới của tôi sẽ có tiêu đề Đủ rồi. Tập thơ sẽ được in tại Nhà xuất bản a5, nhà xuất bản mà bà ưa thích. Có thể nói Wislawa Szymborska sống và làm việc vì thi ca cho đến những ngày cuối cùng của đời mình.
Như ta đã biết, Ba Lan, đất nước với gần bốn mươi triệu dân, có tới bốn nhà văn và nhà thơ được giải Nobel văn học: Henryk Sienkiewicz (Nobel 1905), Stanislaw Reymont (Nobel 1924), Czeslaw Milosz (Nobel 1980), Wislawa Szymborska (Nobel 1996). Như vậy, W. Szymborska là người cuối cùng trong số bốn nhà văn và nhà thơ nói trên đã về cõi vĩnh hằng. Bà ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho nhân dân Ba Lan và cho những người mến mộ thơ bà trên thế giới. Nhưng di sản thi ca của bà sẽ mãi mãi ở lại với nhân loại, để chúng ta mãi mãi không quên bà, mãi mãi nhớ ơn bà về những vần thơ bất hủ, những bài thơ giàu triết lý và tính nhân văn, rất đỗi đời thường nhưng đầy ma lực.
Trong thời gian trên năm mươi năm cầm bút, W. Szymborska chỉ sáng tác trên 200 bài thơ, nhưng đó là những tinh hoa đã vượt qua sự chọn lựa vô cùng khắt khe của tác giả. Bà là một nhà thơ cực kỳ khiêm tốn, bà không thích xuất hiện trên tivi, trên báo chí, không thích xuất hiện trước đám đông. Nếu chúng ta muốn biết về bản thân bà thì chỉ còn có cách phải đọc ra ở trong thơ bà, bởi không bao giờ bà thổ lộ hoặc giải thích tiểu sử của mình. Khi rất cần thiết, như khi nhận giải thưởng Nobel, thì bà mới đọc một bài phát biểu không dài, chỉ đề cập đến thi ca và sự nghiệp sáng tác của bà.
Đối với Việt Nam, từ lâu nữ nhà thơ Wislawa Szymborska đã là một người bạn chân tình. Những tình cảm của bà dành cho Việt Nam, nhất là những người mẹ Việt Nam chịu nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh, đã được thể hiện rất xúc động trong hai bài thơ Việt Nam và Lá chắn do bà sáng tác. Năm 2005, trong thời gian dự Hội nghị những người dịch văn học Ba Lan trên thế giới, tại nhà hát Slowacki cổ kính ở cố đô Krakow, tôi có cơ hội được gặp bà trong buổi lễ trao giải thưởng Transatlantyk - Con tàu xuyên Đại Tây Dương cho dịch giả văn học Ba Lan xuất sắc nhất. Tôi tự giới thiệu, tôi là dịch giả Việt Nam, bà thốt lên: Việt Nam! Tôi biết Việt Nam từ lâu, và tôi còn làm thơ về Việt Nam nữa đấy. Bà cảm ơn về việc các dịch giả Việt Nam đã dịch thơ của bà sang tiếng Việt và bà đề nghị tôi chụp ảnh chung với bà. Tấm ảnh đầy kỷ niệm này tôi đang treo trang trọng tại nhà tôi. Những bài thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ của bà được chuyển ngữ sang tiếng Việt đã thực sự cuốn hút các nhà thơ, nhà văn và những người yêu văn học Ba Lan ở Việt Nam. Chúng sẽ là hình ảnh không bao giờ phai mờ của bà trong tâm trí người đọc nước ta. Trong cuộc gặp gỡ gần đây với đại sứ Ba Lan tại Việt Nam, ngài Roman Iwaszkiewicz, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, đã hết lời ngợi ca nữ nhà thơ đầy tài năng nhưng cực kỳ giản dị và khiêm tốn này. Ông đã đưa ra ý tưởng ấn hành trong năm 2013 tổng tập thơ Wislawa Szymborska, nhân dịp Kỷ niệm lần thứ chín mươi ngày sinh của bà.
Ba từ kỳ lạ nhất
Khi tôi phát âm từ “tương lai”
Âm tiết đầu tiên đã bước vào quá khứ
Khi tôi phát âm từ Yên lặng
Tôi đang hủy diệt từ này
Khi tôi phát âm từ Không có gì
Tôi đang tạo ra cái
Không nằm trong bất kỳ
Một sự không tồn tại nào.
Không có gì hai lần
Không có gì xẩy ra hai lần
Sẽ chẳng bao giờ là như vậy
Mới hay đó là nguyên nhân
Khi sinh ra ta không thuần thục
Ta không lão luyện lúc từ trần.
Cho dù là những học trò tột cùng dốt đặc
dưới mái trường thế gian,
chúng ta chẳng thể nào tái lập
dù một mùa đông hay hè.
Không có ngày nào lặp lại,
Không có hai đêm như nhau,
Không có hai nụ hôn giống hệt,
Không có hai ánh mắt nhìn
Lại y như một.
Hôm qua bên em
có người nhắc tên anh
em như được một bông hồng
bay qua cửa sổ mở vào phòng.
Hôm nay chúng mình bên nhau,
Em quay mặt vào tường.
Bông hồng ư? Bông hồng ra sao?
Đó là bông hoa? Hay là cục đá?
Hỡi thời gian tệ hại
Sao mi gây lo ngại
Chẳng đâu vào đâu?
Mi đang hiện hữu - rồi mi trôi qua.
Mi sẽ trôi qua - thế là tuyệt đẹp.
Miệng cười, tay ôm nhau
Chúng ta cố tìm hòa thuận
Cho dù chúng ta khác biệt
Như hai giọt nước trong lành.
Tấm ảnh chụp ngày 11 tháng 9
Họ nhảy xuống
Từ những tầng nhà rực lửa
một người, hai người và tiếp nữa
cao hơn, thấp hơn
Tấm ảnh chụp cố níu họ sống,
Con bây giờ lưu giữ họ
Đang lao xuống
từ trên cao
Họ vẫn còn nguyên
với gương mặt mình,
Máu họ vẫn chìm
Sâu trong cơ thể
Thời gian còn đủ
cho tóc họ bay,
Tiền xu, chìa khóa
rơi khỏi túi dày.
Họ vẫn còn trên không trung,
trong những vị trí
mở toang
Chỉ hai việc tôi có thế làm cho họ:
Miêu tả chuyến bay
Và không đặt tay
Ghi vào câu kết.
Khoảnh khắc
Tôi thả bước trên đồi xanh
Cỏ và hoa chen cỏ
Tựa trong tranh dành cho trẻ nhỏ
Sương tan, trời biếc xanh
Trong tĩnh lặng tầm nhìn lan nhanh
sang những quả đồi lân cận.
Dường như tại chốn này
Nguyên đại cổ sinh chưa hề có
cái thời đá gầm với đá
đùn thành núi cao
đêm không ánh lửa
ngày đen một mầu.
Dường như qua đây không di chuyển
những bình nguyên
điên vì nóng
run vì cóng.
Dường như biển chỉ gầm ở nơi khác
và phá nát bờ ở tận trời xa.
Chín giờ ba mươi, giờ địa phương
Mọi vật trong vị trí của mình
trong hòa thuận thường tình
Dưới thung lũng suối nhỏ vẫn là con suối nhỏ
Đường mòn vẫn là đường mòn như muôn thuở
Rừng thiên niên vạn đại vẫn là rừng
Trên trời những chú chim đang lượn
vẫn là những chú chim đang lượn trên trời.
Tôi đưa mắt quan sát
Hiện hữu tại nơi đây khoảnh khắc
Một trong những khoảnh khắc trần gian
tôi mong cầu tồn tại ngàn năm.
Lê Bá Thự - dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan
queviet.pl