Ninh Bình là vùng đất hiểm và thiêng, quê hương của ba triều đại phong kiến Đinh, Tiền Lê, Lý với bốn vị vua lừng lẫy một thời: Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Công Uẩn và Giản Định Đế.
Con đèo Tam Điệp với bài thơ nổi tiếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là chiếc bản lề nối hai tỉnh Ninh Bình - Thanh Hóa. Thời xưa, phía trong con đèo là Thanh Hóa nội, phía ngoài là Thanh Hóa ngoại. Từ đèo Tam Điệp đến Cố đô Hoa Lư (Trường Yên) khoảng 30 km .
Sử sách ghi lại, Đinh Bộ Lĩnh quê huyện Gia Viễn (Ninh Bình), sau khi dẹp tan 12 sứ quân, ông lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng). Ông đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt, niên hiệu là Thái Bình (năm 970). Triều Đinh tồn tại 12 năm. 
Toàn cảnh đền vua Đinh nhìn từ núi Mã. Yên
Nhà Đinh mất, nhà Tiền Lê lên thay. Lê Hoàn vốn là quan Thập đạo tướng quân dưới cờ nhà Đinh, khi Đinh Tiên Hoàng mất, Lê Hoàn được các quan và quân sĩ “rước” lên ngai vàng. Dưới triều đại vua Lê Đại Hành (941-1005), nhà Tiền Lê vẫn đóng đô tại Hoa Lư, vua ở ngôi 25 năm (980-1005). Lê Hoàn đặt ba niên hiệu: Thiên Phúc (từ 980 đến 988); Hưng Thống (từ 989 đến 993); Ứng Thiên (từ 994 đến 1005).
Triều Tiền Lê trải qua ba đời vua Lê Đại Hành (980-1005), Lê Trung Tông (1005) rồi đến Lê Ngọa Triều (1005-1009). Triều Tiền Lê tồn tại 29 năm.
Triều Lý thay cho triều Tiền Lê. Ông vua mở đầu nhà Lý là Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ. Ông quê Cổ Pháp (Bắc Ninh). Nhà vua lên ngôi tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), đến năm 1010 mới đặt niên hiệu riêng: Thuận Thiên. Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), ông lên ngôi thì đến tháng 7 năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ xuống “Chiếu dời đô”. Như vậy, triều Lý trong khoảng gần 10 tháng của năm đầu và năm thứ hai, vẫn lấy Hoa Lư làm Kinh đô. Trong thời gian ấy, niên hiệu Thuận Thiên vẫn sáng trên lá cờ đại thêu chữ “Lý”, bay phấp phới trên đỉnh núi Mã Yên.
Dấu ấn của hai triều Đinh, Tiền Lê và năm đầu của triều Lý vẫn còn đó. Ngày nay, không còn những cung điện lộng lẫy nữa, thời gian và những biến cố lịch sử đã làm đổ nát những cung điện đẹp: Bách Bảo Thiên Tuế, cột điện được dát vàng, bạc, và các điện: Phong Lưu, Tử Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc, Trường Xuân, Long Tộc. Nhưng vẫn còn đó Lăng vua Đinh trên núi Mã Yên, Long Sàng đá nơi sân chầu, đền vua Đinh, đền vua Lê, sông Sào Khê mà Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ đứng ở đó để duyệt các cuộc tập trận của thủy binh thời Đinh, Tiền Lê và Lý.

Tam cốc Bích động
Và còn những câu ca đã đi vào trí nhớ của nhân dân đến tận bây giờ về Đinh Tiên Hoàng: "Đặt ra có ngũ, có dinh/Có quân Túc vệ, có thành Tứ vi/Trên thì bảo điện uy nghi/Bên ngoài lại sẵn đan trì nghi môn...”.
Ông vua thứ tư lên ngôi ở Ninh Bình là Giản Định Đế. Tên húy của ông là Trần Ngỗi (cũng gọi là Trần Quỹ). Ông là con thứ của Trần Nghệ Tông. Ông Trần Ngỗi lên ngôi tại Mô Độ, tên thời xưa của huyện Yên Mô (Ninh Bình), vào tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), tức là Giản Định Đế. Ông là vị vua mở đầu nhà Hậu Trần. Đọc sử, ta biết nhà Hậu Trần gồm hai đời vua: Giản Định Đế (Trần Ngỗi) ở ngôi từ 1407 đến 1409 và Trùng Quang Đế (Trần Quý Khoáng) ở ngôi trong thời gian 1409-1413.
Lên ngôi vua thời quân Minh đang xâm lược nước ta, Giản Định Đế đã chỉ huy quân sĩ đánh trận Bô Cô, thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, diệt gần 20.000 quân giặc. Đây là một trận thắng lẫy lừng của quân sĩ thời Hậu Trần chống giặc Minh xâm lược.
Thời ấy, Giản Định Đế không có ngai vàng, ông cũng không có điều kiện để thiết lập triều đình với bá quan văn võ. Ông đóng đại bản doanh tại thôn Bồ Xuyên, xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình bây giờ. Hiện nay, xã Yên Thành còn lưu giữ được khá nhiều di tích, dấu ấn về ông vua thời Hậu Trần này.
Đền La ở thôn Bồ Xuyên, xã Yên Thành, huyện Yên Mô, thờ hai vua, thời Hậu Trần: Giản Định Đế, Trùng Quang Đế. Ngôi đền đã được cấp bằng “Di tích lịch sử, văn hóa”. Ngôi đền ở vào địa thế rất đẹp, có bốn ngọn núi chầu bốn bên: Phương Duệ, Cổ Rùa, Long Mã, Búi Tóc.
Thôn La còn có phủ thờ Bối Mai công chúa dưới chân núi Cái Sơn. Bà là con gái Giản Định Đế, người có công tổ chức việc khẩn hoang, khuyến khích việc nông trang, xây dựng xóm làng. Cách phủ thờ Bối Mai công chúa là khu lăng, nơi này, theo truyền thuyết là nơi an táng Giản Định Đế. Khu lăng ngày trước rộng đến 8 ha. Trước lăng có biển đề: “Hậu Trần hoàng đế lăng”.
Xã Yên Thành lại còn một cái giếng mang tên Giếng Dặn. Giếng này có từ thời Giản Định Đế. Các cụ cho hay, uống nước giếng Dặn là nhớ lấy lời tiên tổ, ra sức giữ gìn và góp phần dựng xây non sông gấm vóc này.
Thùy Dương (Theo QĐND)