Bỏ qua tới nội dung chính
Hội người Việt Nam tại Ba Lan
Quê Việt Online

Vào tứ giác Long Xuyên... ở đậu

07/12/2009 9 phút đọc Đặng Trung Kiên
Cũng học tập mô hình khai thác vùng tứ giác Long Xuyên từng thành công rực rỡ của tỉnh An Giang, song chương trình đưa dân
Vào tứ giác Long Xuyên... ở đậu
Cũng học tập mô hình khai thác vùng tứ giác Long Xuyên từng thành công rực rỡ của tỉnh An Giang, song chương trình đưa dân vào tứ giác Long Xuyên tại Kiên Giang đã để lại rất nhiều... hệ lụy.

Mặt tiền dự án KH9, nơi có con đường rải sỏi duy nhất chạy qua.

 

Sau 7 năm khai khẩn đất hoang, những con người đi theo dự án vẫn phải sống một cuộc sống tạm bợ như... ở đậu. Họ bị bỏ quên trong những khu dân cư không điện, đường, trường, trạm, nước sinh hoạt... giữa vùng trũng mênh mông. Hậu quả tất yếu là một cuộc di dân nữa lại bắt đầu, nhưng lần này không còn sôi nổi, háo hức những hy vọng đổi đời.  
 

Để khai thác vùng đất hoang hoá, nhiễm phèn nằm sâu trong vùng tứ giác Long Xuyên, giữa năm 2002, UBND tỉnh Kiên Giang đã phê duyệt 2 dự án di dân kết hợp xây dựng vùng kinh tế mới. Được giao làm đầu mối thực hiện dự án, Chi cục Phát triển nông thôn Kiên Giang đã cấp tập đưa gần 1.000 hộ nghèo từ 8 huyện, thị xã trong tỉnh vào khu kinh tế mới KH9 (xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất) và khu kinh tế mới Rộc Xây I (xã Vĩnh Điều, huyện Kiên Lương - nay thuộc huyện Giang Thành).
 
Kết quả là sau 3 năm phục hoá, người nông dân các vùng kinh tế mới đã bắt đầu kiếm được cái ăn, dù chưa giải quyết được nợ nần do thua lỗ liên tiếp những năm đầu. Song, thành quả lao động cực nhọc ấy không giữ chân họ ở lại với tứ giác Long Xuyên, khi cuộc sống tạm bợ đã căng kéo quá lâu, kìm hãm hàng ngàn con người giữa mênh mông đồng nước. Thế là họ lần lượt bỏ đi, các dự án tiêu tốn hàng chục tỉ đồng cũng đứng trước nguy cơ phá sản...

Cuộc sống ở.... ruộng


Tôi gặp Danh Khánh, Danh Chiên lếch thếch dưới cái nắng hừng hực của phương nam, giữa cánh đồng trơ trụi không một bóng cây che. Nhà cách trường 6 cây số, buổi sáng các em phải cuốc bộ từ lúc 5 giờ, trưa tan học mà nửa chiều mới đến nhà. Đó là nhóm học sinh lớp 2, điểm trường kênh 10, khu kinh tế mới KH9 thuộc xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất.

Đến nhà ông Nguyễn Tái Thế - Tổ trưởng tổ 2, tôi mới được cái nhìn "toàn cảnh": "Ngày mưa đường lầy, nước ngập, cầu sập, tụi nhỏ phải lội vòng qua mấy cánh đồng. Tới lớp đã trễ, quần áo lại lấm lem như đi cày. Mà bữa đực bữa cái vậy thôi, học hành gì chú ơi". Thấy tôi chẳng biết hỏi gì nữa, ông Thế kể tiếp: "Hai năm nay có hội từ thiện tặng cho hai phòng học, rồi ngành giáo dục điều động giáo viên thuỷ, bộ kết hợp vào đây dạy chữ. Còn trước, mấy trăm đứa nhỏ xứ này ở dốt hết, con tui cũng vậy".

Năm 2002, ông Thế từ xã Dân Khánh Tây, huyện An Minh đưa cả gia đình vào KH9. Lúc đó Nguyễn Thị Cẩm Nhi (lớp 9), Nguyễn Thái Tân (lớp 7) phải bỏ học vì không có trường. Cũng có người cho con chèo xuồng ra xã Nam Thái Sơn học, nhưng sức trẻ có hạn, phần lớn "cầm cự" chưa hết một học kỳ. Chỉ những người ở Nam Thái Sơn vào lập nghiệp mới khá hơn, họ gửi con cho người thân ngoài xã, rồi cuối tuần đưa đón. Nhưng số này quá ít so với 500 hộ được đưa vào vùng dự án mà phần nhiều đến từ các huyện xa như An Minh, Vĩnh Thuận và thành phố Rạch Giá.

Nửa chiều, Nguyễn Thị Cẩm Nhi hớn hở chạy về, báo tin cây cầu 500 đã được ai đó sửa lại. Ông Thế giải thích: "Hôm qua vợ tui đi chợ ngoài Hòn Đất bằng xe gắn máy, cầu bị sập nên không về được, giờ nhắn cho bả về". Trong phạm vi 26km2 của khu kinh tế có đến 9 kênh ngang, 3 kênh dọc. ẹt nhất phải có 15 cây cầu kiên cố, hơn 50km đường giao thông mới ra vào thông suốt.
 
Vậy mà dự án mới làm được 7 cầu tạm bằng cừ tràm, ván mỏng. Bởi vậy, chuyện sập cầu - sửa cầu quan trọng hơn... dự báo thời tiết. Đã vậy, cả vùng dự án mênh mông chỉ có 16km đường rải sỏi qua một vài cụm dân cư thưa thớt. Nhiều khu vực "nội bất xuất, ngoại bất nhập" cả thuỷ lẫn bộ, phải lội ruộng 3 - 4 cây số mới ra đến đường dự án. Nhưng nói gì thì nói, nước sạch vẫn là thứ quý giá nhất trên đời đối với bà con KH9.

Mỗi hộ được cấp một cái lu đựng nước mưa, chỉ dùng vài tháng là hết, nên ăn uống, tắm giặt những tháng còn lại đều phải ra kênh. Khổ nỗi ở đây, một trăm phần trăm công trình vệ sinh đều nằm ngay trên... kênh, tức là "đi cầu tõm". Và điều này cũng không kém chua xót: Đứa con út của anh Nguyễn Tái Thế năm nay đã 10 tuổi, nhưng nó chưa hề biết điện và các thiết bị sử dụng điện là gì. 

Một cuộc di dân khác


Ruộng phèn tứ giác Long Xuyên đã bắt đầu cho gạo, nhưng người dân phải bỏ đi vì sức cùng lực kiệt.

 

Đi hay ở là câu chuyện được bàn tính suốt mấy tháng nay trong gia đình bà Nguyễn Thị Đây - ở tổ 1. Năm 2003, vợ chồng bà từ ấp Vàm Răng, xã Sơn Kiên (một xã khác của huyện Hòn Đất) đem theo 6 người con vào tứ giác Long Xuyên lập nghiệp. Bà nói: "Hồi đó ruộng nổi phèn đỏ quạch, vụ lúa nào tui cũng cày cấy, gieo sạ nhưng không vụ nào có gạo ăn. Mùa nước nổi tôm cá ở đâu không biết, chứ vùng nước phèn này kiếm bữa ăn chưa đủ, phải tứ tán làm mướn cho qua ngày.

Vợ chồng, con cái đổ biết bao công sức cải tạo đất từ năm này qua năm khác, chỉ mới tạm ổn khoảng hai năm nay. Dẫu chưa bằng ruộng thuộc nhưng mỗi hécta vụ đông xuân cũng thu được 5 tấn lúa, vụ hè thu ít hơn cũng 3 tấn. Vậy mà phải tính chuyện bỏ đi". Bà có nhiều lý do để đi. 3ha đất được cắm mốc khai hoang năm nào giờ không đủ cho 5 người con đã ra riêng, một đống nợ do mấy năm mới vào làm ăn thua lỗ, chuyện học hành của bầy cháu nội - ngoại...

Trong khi bà Đây còn phân vân thì hàng trăm hộ khác đã cầm cố, cho thuê, bán đất. Họ phải trả nợ rồi tìm đường về quê, hoặc lên thành phố làm thuê, coi như trở về điểm xuất phát. Nghe tôi hỏi đường lên khu vực có dân Rạch Giá  - Vĩnh Thuận sinh sống, bà Đây lắc đầu: "Hổng có ai, họ về xứ hết rồi". Quả thật, đi từ kênh ngang số 10 trở lên chỉ thấy những ngôi nhà bỏ hoang, trống hoác giữa đồng không.

Theo UBND huyện Hòn Đất, chủ trương chung là chính quyền không xác nhận cho việc chuyển nhượng đất dự án nên huyện không nắm được có bao nhiêu hộ đã bán đất, cầm cố, cho thuê mà chỉ biết hiện còn 65% số dân ở KH9. Tuy nhiên, ở dự án Rộc Xây I bên xã Vĩnh Điều, huyện Giang Thành thì số liệu về sự thất bại đã rõ hơn. Dự án có 320 hộ (đến từ các huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Châu Thành, An Biên) thì 91 hộ đã bỏ đi nơi khác, 75 hộ chỉ đến canh tác theo mùa vụ. Về đất đai thì 259ha đã bán đứt, 520ha cầm cố và cho thuê,...

Dự án "đếm cua trong lỗ"

Trở về từ vùng tứ giác Long Xuyên, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng khi đối chiếu những gì mắt thấy, tai nghe với viễn cảnh trong các dự án di dân được lập ra vào năm 2002. Dự án KH9 có tổng vốn đầu tư 35,6 tỉ đồng nhưng đến nay mới đầu tư được 10,9 tỉ (đạt 30,86%), dự án Rộc Xây I có vốn đầu tư 37 tỉ đồng nhưng cũng mới đầu tư được 10,5 tỉ (28,45%). Nguồn vốn này chủ yếu được đầu tư vào thuỷ lợi và làm một số đoạn đường rải sỏi, cầu, cống thuộc hai vùng dự án.
 
Do vậy, dự án KH9 còn nợ dân 5 điểm trường học, 43,5km đường giao thông, 140m cầu kiên cố qua kênh, toàn bộ lưới điện trung - hạ thế dài 101,5km. Ơ dự án Rộc Xây I, các công trình giao thông, trường học, trạm y tế cũng đang nợ dân đến 65% số hạng mục được duyệt.

Trong khi đó, cả hai dự án đều hết thời hạn đầu tư từ năm 2006, UBND tỉnh Kiên Giang đã điều chỉnh đến năm 2010. Ông Nguyễn Thanh Hùng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Kiên Giang - giải thích: "Khó khăn lớn nhất là thiếu kinh phí. Kinh phí của trung ương, của địa phương, ngành điện đều thiếu. Chúng tôi đang kiến nghị... ".

Trước tình trạng "không thể quản lý nổi", chính quyền các địa phương có dự án đang đề nghị nghiêm cấm việc mua bán, cầm cố đất đai và buộc các hộ di dân phải định cư tại chỗ. Tuy nhiên, vấn đề là UBND tỉnh Kiên Giang và Bộ NNPTNT cần khẩn trương bố trí nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho các dự án, mà thực chất là trả nợ người dân.

Ngược lại phải cho dân chuyển nhượng đất tự do, không ràng buộc họ về đất đai, nhân hộ khẩu như hiện nay - tức chấp nhận tứ giác Long Xuyên ở Kiên Giang chỉ là vùng canh tác, không phải khu vực sắp xếp lại dân cư như dự án ban đầu. Nếu càng để lâu, người dân sẽ càng khổ sở.

 

Đặng Trung Kiên (Lao Động)
Tin tài trợ
Quảng cáo Quê Việt

Liên hệ: ads@queviet.eu